- Nêu cảm nhận, suy nghĩ sau khi tham gia hoạt động. Vườn trường. Trải nghiệm “Người làm vườn” - Mua rau, thức ăn, hoa quả,… theo thực đơn phù hợp - Xem phim 3D về văn hóa các vùng miền của đất nước bằng kính thực tế ảo - Nêu cảm nhận, suy nghĩ sau khi tham gia hoạt Gợi ý bài tập về nhà: 3.1. Giđấy mẫu số 1. Lịch sử vang dội của dân tộc được tái tạo qua các tác phẩm văn chương. 1 trong số đấy là bài thơ “Phú gia về kinh” của Trần Quang Khcửa ải trình bày lòng yêu nước rực lửa và khát vọng thống trị muôn thuở thái hoà Gợi ý. Trần Quang Khải không chỉ là một danh tướng kiệt xuất góp phần vào chiến thắng chống quân Nguyên – Mông mà còn là một nhà thơ tài hoa với nhiều tác phẩm để lại cho đời mà tiêu biểu chính là bài “Phò giá về kinh”. Bằng thể thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt, giọng Bài Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một kiệt tác trong thơ văn cổ. Ý thơ hàm súc, cô đọng; ngôn ngữ thơ giản dị, gợi cảm. Bài thơ thể hiện niềm tự hào to lớn về sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta và làm sống lại những năm tháng hào hùng đánh đuổi quân Đôi nét về tác phẩm Phò giá về kinh. 1. Hoàn cảnh ra đời. - Bài thơ “Phò giá về kinh” được làm khi ông đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long (Hà Nội ngày nay) ngay sau chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm 1285 Tác phẩm phò giá về kinh được sang tác trong hoàn cảnh tướng Trần Quang Khải được vinh dự phò giá nhà vua để trở về kinh thành sau kế hoạch vườn không nhà trống nhà Trần. mở đầu bài thơ là chiến thắng của chiến lược. Chương Dương và Hàm Tử là những địa điểm 2ehYDT. Cảm nhận bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải Mở bài Trần Quang Khải là vị dũng tướng có công công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên xâm lược. Bài thơ PHÒ GIÁ VỀ KINH Tụng giá hoàn kinh sư là một trong những bài thơ xuất sắc, hiếm hoi còn để lại của Trần Quang Khải và của nền thi ca Lý-Trần Thân bài Đây là bài thơ ra đời trong giai đoạn lịch sử dân tộc thoát khỏi ách đô hộ ngàn năm của phong kiến phương Bắc đang trên đường vừa bảo vệ vừa củng cố, xây dựng một quốc gia tự chủ rất mực hào hùng. Đặc biệt bài thơ nhắc lại hai chiến thắng vang dội của quân và dân ta đời Trần năm 1285 tại bến Chương Dương và cửa Hàm Tử dưới sự chỉ huy của Thái sư Trần Quang khải góp phần xoay chuyển thế trận, tạo điều kiện cho ông hộ giá đưa vua Trần Nhân Tông về lại kinh thành Thăng Long Bài thơ được viết khi Trần Quang Khải đi đón hai vua Trần Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông về Thăng Long ngay sau khi chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương và giải phóng kinh đô 1285. Bài thơ ca ngợi hào khí chiến thắng oanh liệt của quân dân đời Trần, hào khí Đông A, khẳng định quyết tâm và khát vọng xây dựng nền thái bình muôn đời cho đất nước. “Tụng giá hoàn kinh sư” là bài thơ của một vị chủ tướng nói về những chiến công của quân và dân ta đã đạt được trong hai cuộc kháng chiến. Mà ông là người cũng có những đóng góp không nhỏ để lập nên những chiến công lớn lao, hiển hách đó. Hai câu thơ đầu bài thơ tập trung khắc hoạ nhũng chiến công lùng lẫy của quân ta Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Hai câu thơ đầu nhịp thơ khẩn trương, mạnh mẽ, chỉ có vẻn vẹn mười chữ nhưng lượng thông tin nén trong chúng chật ắp. Những động từ mạnh được đảo lên dầu câu thơ.’ đoạt, cầm đã diễn tả một cách sinh động thế chủ động áp đảo, đầy uy lực của quân đội nhà Trần trước kẻ thù. Trong cái thế vũ bão của quân dân ta, hình ảnh kẻ thù trờ nên bạc nhược, đáng khinh Hổ cách dùng của người Trung Quốc với thái độ khinh miệt. Hai câu thơ ngắn gọn đó có tói 4 tiếng nói về hai địa danh Chương Dương và Hàm Tử. Đó là những địa danh hào hùng gắn với những chiến công giòn giã làm đảo ngược tình thế. Mới ngày nào, hơn 50 vạn quân do Thoát Hoan cẩm đầu tràn sang như sóng dữ hòng nuốt chửng Đại Việt. Giặc từ hai phía kẹp lại như gọng kìm, từ Nam Quan đánh xuống, từ Chiêm Thành đánh ra. Vận nước như ngàn cân treo sợi tóc. Quân ta phải rút lui chiến lược. Nhưng sự đồng lòng của vua tôi nhà Trần, tài thao lược của các tướng sĩ đã làm thay đổi cục diện chiến trường. Tháng 4 năm Ất Dậu 1285, rồi tháng 6 năm đó, quân ta liên tiếp giáng đòn sấm sét xuống đầu quần giặc. Chiến công nối tiếp chiến công, niềm hân hoan chiến thắng vang lừng non sông. Trước mắt ta như hiện ra hình ảnh của đoàn quân tràn đầy khí thế, bước hành quân rầm rập, tung bừng ngọn cờ khải hoàn Ba quán hùng khí át sao Ngưu Phạm Ngũ Lão, Tỏ lòng. Câu thơ của Trần Quang Khải như một trang kí sự chân thực, hào hùng. Điều đặc biệt là tác giả không liệt kê các chiến thắng theo trình tự thời gian mà ông đã nhắc tới chiến thắng Chương Dương trước, Hàm Tử sau. Trong lúc này tác giả và quân dân đời Trần đang sống trong không khí chiến thắng Chương Dương đang diễn ra. Từ niềm vui đó mới sống lại chiến thắng Hàm Tử trước khoảng hai tháng vì thế mà chiến tháng Chương Dương sau nhưng được ca ngợi trước. Hai địa danh này trở thành hai chiến công rực rỡ ở đời nhà Trần. Có lẽ không chi bởi trận Chương Dương có tính chất quyết định để giải phóng kinh đô mà còn bởi chiến thắng ấy vừa mới diễn ra, tính thời sự nóng hổi. Hơi thở của hào khí Đông A còn vang dội, niềm hân hoan, phấn khởi như đang truyền đến từng người. Ẩn sau cách kể khách quan của tác giả phải chăng còn là niềm tự hào và chút phấn chấn của riêng Trần Quang Khải khi chính ông góp sức vào sự nghiệp bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng ? Hai câu thơ cuối thể hiện khát vọng hòa bình như một lời động viên xây dựng, phát triển đất nước với niềm tin sắt đá vào sự bền vững muôn đời của đất nước Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử gian san. Đất nước đã sạch bóng quăn thù, nền thái bình đang mở ra một tương lai tươi sáng hơn cho dân tộc, nhưng tác giả vẫn không quên nhắc nhở về nhiệm vụ trước mắt và cũng là nhiệm vụ lâu dài Thái bình tu trí lực. Tu trí lực nghĩa gắng sức đem tài trì, đem sức người, sức của ra xây dựng lại đất nước ngày càng vững mạnh. Theo nhà thơ, sự bền vững và thịnh trị của dân tộc không phải tự nhiên mà có, mà nó là kết quả phấn đấu không ngừng của toàn thể nhân dân. Điều này bộc lộ tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược lớn Trần Quang Khải. Ông đã không “ngủ quên” trong chiến thắng mà chính lòng tự hào về những chiến công đạt được ngày hôm nay đã thôi thúc ý chí, quyết tâm xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh. Lời thơ của Trần Quang Khải nhắn nhủ tới mỗi chúng ta bài học cảnh giác hết sức sáu sắc. Không những thế lời thơ còn là lời khích lê, động viên, lời truyền gửi tới mỗi chúng ta niềm tin vào sức mạnh tự cường sẽ xây dựng “non sông nghìn thuở vững âu vàng” Trần Nhân Tông, Tức sự. Phải là người rất thông minh, tài hoa và có tấm lòng yêu nước thương dân cao cả, Trần Quang Khải mới viết nên những vần thơ sâu xa, lí thú đến như vậy. Bài thơ mang tính thời sự nóng hổi nhưng lại mang ý nghĩa lâu bền bởi bài thơ không chỉ chứa dựng hào khí chiến đấu và khát vọng hoà bình của cha ống ta dời nhà Trần, mà đó cũng là hào khí và khát vọng muôn đời của dân tộc ta trong mọi thời đại. Ý tưởng và suy nghĩ đó xuất phát từ đáy lòng, từ trái tim yêu nước và hùng khí của một nhà quý tộc tôn thất, vị tướng lĩnh tài ba, một nhà ngoại giao, một nhà chính trị xuất sắc đầu đời Trần. Phò giá về kinh biểu đạt ý tưởng lớn lao, rõ ràng theo kiểu nói cô đúc, giọng chắc nịch, không văn hoa. Cảm xúc trữ tình được ẩn chứa bên trong ý tưởng. Bài thơ được đánh giá là “khúc ca khải hoàn” ca ngợi hào khí chiến thắng oanh liệt của quân dân đời Trần trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Bài thơ dử dụng các động từ mạnh trong việc miêu tả hai chiến thắng Chương Dương và Hàm Tử. Câu trên đối xứng với câu dưới về thanh, nhịp, ý. Giọng điệu, âm hưởng thơ hùng hồn, mạnh mẽ phản ánh chân thực hào khí Đông A. Kết bài Bài thơ bộc lộ niềm sảng khoái của người chiến thắng, thể hiện hào khí Đông A của thời đại nhưng lại không mang niềm vui an lạc. Vị chiến tướng chưa kịp nghĩ ngơi đã lo đến nhiệm vụ trước mắt cũng là kế sách lâu dài cho vương triều, cho đất nước. Bài thơ chỉ có hai mươi chữ nhưng đã vừa bô’ cáo được thành quả thời kỳ chiến tranh giữ nước lại vừa đặt ra nhiệm vụ trong hòa bình. Trần Quang Khải là một chiến tướng đồng thời là một nhà chiến lược”. III. LUYỆN TẬP Câu 1 Trả lời ngắn gọn. + Bài thơ “Phò giá về kinh” viết theo thề thơ nào? + Bài thơ tái hiện chiến thắng nào trong lịch sử dân tộc? + Bài thơ “Phò giá về kinh” được đánh giá là gì? + Tình cảm và thái độ của tác giả được thể hiện trong bài thơ là gì? + Biện pháp nghệ thuật nào đã dược sử dụng trong hai câu thơ đầu bài thơ? Câu 2 Cách đưa tin chiến thắng trong hai câu thơ đầu bài thơ có gì đặc biệt? Tại sao tác giả lại sử dụng cách đó? Câu 3 Hai câu thơ cuối, tác giả đã gửi gắm điều gì? Qua đó, em nhận xét gì về tầm tư tưởng của nhà thơ? Câu 4 Hào khí Đông A được thể hiện như thế nào qua bài tha Tụng giá hoàn kinh sư? Câu 5 Điểm giống và khác nhau giữa bài thơ “Sông núi nước Nam” và “Phò giá về kinh”. Giống nhau – Đều diễn đạt ý tưởng và cách nói chắc nịch, cô đúc trong đó ý tưởng và cảm xúc hoà làm một. – Đều thể hiện bản lĩnh khí phách hào hùng của dân tộc ta. Một bài là nêu cao chân lí vĩnh viễn, thiêng liêng Nước Việt Nam là của người Việt Nam, kẻ thù xâm phạm tất sẽ bị bại vong. Một bài là thể hiện khí phách hào hùng dân tộc, khát vọng xây dựng và phát triển cuộc sống hoà bình, niềm tin vào sự bền vững muôn đời của đất nước. Khác nhau Bài 1 viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài 2 viết theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Nội dung bài viết1 Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 1 2 3 Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 2 4 Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Gợi ý Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 1 Có những bài thơ khi mới nhắc tên đã làm sống dậy trong lòng người đọc niềm tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc. Bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải là một trong những bài như thế. Bài thơ đã để lại trong em ấn tượng khó phai mờ về những chiến thắng hào hùng của quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai. Đọc bài thơ trước hết em vô cùng tự hào về hào khí chiến đấu của quân và dân ta được tái hiện trong hai câu thơ đầu. Câu thơ năm chữ, ngắn gọn nhưng củng đủ làm em hình dung được tinh thần chiến đấu chủ động, áp đảo kẻ thù của quân ta Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Dịch thơ Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù Trần Quang Khải thật tinh tế khi lựa chọn hai động từ mạnh “ Đoạt” và “ Cầm” nghĩa là “ Cướp” và “ Bắt lấy”đặt lên đầu câu theo kiểu đảo ngữ nhằm gợi tả hành động mạnh mẽ, ý chí chiến đấu dũng cảm của quân ta. Giọng thơ mạnh mẽ, nhịp thơ nhanh dồn dập cũng góp phần thể hiện khí thế tiêu diệt giặc chủ động, tinh thần chiến đấu quả cảm của quân dân thời Trần. Đọc đến đây em thấy mình như được sống lại không khí hân hoan mừng chiến thắng của dân tộc qua các địa danh “ Chương Dương, Hàm Tử”. Cách liệt kê hai địa danh đồng thời cũng là hai chiến thắng vang dội đã tô đậm hào khí chiến thắng của quân ta. Tuy nhiên nét đặc biệt của bài thơ là trình tự các chiến thắng không được nêu theo diễn biến thời gian trước sau mà theo trình tự đảo ngược. Chiến thắng Chương Dương xảy ra sau lại được nhắc đến trước, chiến thắng Hàm Tử xảy ra trước lại được nhắc đến sau. Cách trình bày như thế là hợp với lô-gíc của tình cảm con người. Trận sau mới hơn và cũng vang dội hơn. Chính nhờ chiến thắng Chương Dương mà Thoát Hoan phải bỏ chạy, Thăng Long được giải phóng. Chính nhờ chiến tháng Chương Dương mà có cái không khí rạo rực phấn chấn trong ngày rước vua Trần trở lại kinh thành. Lời thơ rất cô đúc, vẻn vẹn mười chữ, nêu hai sự việc là “cướp giáo giặc” “bắt quân thù” và hai chiến thắng giúp người đọc cảm nhận được niềm phấn chấn, hân hoan của toàn dân tộc. Không chỉ tự hào về hào khí chiến đấu và chiến thắng của quân ta, em còn đồng cảm với khát vọng của Trần Quang Khải và quân dân thời Trần được gửi gắm trong hai câu thơ cuối của bài thơ. Đó là khát vọng về việc xây dựng đất nước trong hòa bình Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san Dịch thơ Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu Ngôn ngữ thơ giản dị, nhịp thơ chậm lại gợi người đọc hình dung tới lời động viên quân dân sau chiến thắng. Đất nước đã hòa bình cần xây dựng đất nước giàu mạnh muôn đời. Vì sao vây? Thông thường, sau chiến thắng người ta thường dễ thoả mãn, dễ say sưa với vinh quang, chiến thắng, dễ bỏ lỡ một khoảng thời gian cần thiết chuẩn bị cho tương lai. Trần Quang Khải đã có nhận thức hoàn toàn đúng đắn và đặt vấn đề một cách kịp thời về những công việc thời hậu chiến. Công việc quan trọng của một đất nước sau chiến tranh là xây dựng đất nước giàu mạnh, hòa bình thịnh trị lâu dài. Bởi vậy rất cần phải “tu trí lực”để “Vạn cổ thử giang san”. Ý thơ không chỉ gợi cho người đọc hiểu được khát vọng và nhiệm vụ xây dựng đất nước mà còn bộc lộ niềm tin sắt đá vào sự bền vững muôn đời của đất nước. Điếu ấy đã làm nên ý nghĩa sâu sắc của bài thơ. Yêu thích nội dung bài thơ bao nhiêu em càng yêu thích nét nghệ thuật đặc sắc của bài thơ bấy nhiêu. Bài thơ làm theo thể ngũ ngôn ngắn gọn rất kiệm lời mà giàu ý nghĩa. Đặc biệt với cách diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng đã giúp người đọc hình dung được hào khí chiến thắng và khơi gợi niềm tự hào về những chiến thắng vang dội của nhân dân ta. Bài thơ đã khép lại song âm vang chiến thắng như vẫn còn vang vọng đâu đây. Bài thơ xứng đáng là một khúc ca khải hoàn của dân tộc góp phần khơi gợi, bồi đắp trong lòng mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước. Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Bài làm 2 Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải 1241-1294, con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, không những là một danh tuớng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân tộc. Trần Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh Tụng giá hoàn kinh sư cũng đủ để thành một tên tuổi. Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải 10 phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng- nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹp Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức. Non nước ấy ngàn thu. Trần Trọng Kim dịch Dường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nên cả lại vào bốn dòng ngũ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc nịch. Hai câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng ca Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Chương Dương và Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương-Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi hồi. Tác giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng bởi tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí, và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở đó. Nên như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khác Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Vẫn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghỉ ngơi chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công, đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục! Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết tu trí lực của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân ông. Niềm mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của muôn triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhân văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn đời. Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải – Gợi ý 1. Bố cục của bài thơ Bài thơ gồm hai phần khá mạch lạc theo kết cấu thường có của bài thơ cổ, thường qua việc kể, tả sự việc để bộc lộ những cảm xúc, suy tưởng trên nền sự việc đó. Kiểu cấu tứ này thời xưa gọi là “xúc cảnh sinh tình” tâm tiếp xúc với cảnh sinh ra tình. Có loại bài thơ bắt đầu với việc tả cảnh, kể sự việc sau đó chuyển sang phần suy nghĩ, cảm xúc; lại có loại bài thơ sau mỗi sự việc hay cảnh vật ắn chứa cảm xúc, suy tư. Bài Tụng giá hoàn kinh sư thuộc loại thứ nhất, còn bài Thiên Trường vãn vọng thuộc loại thứ hai. Bài thơ có thể chia làm hai phần, mỗi phần tương ứng với hai câu thơ – Hai câu đầu nhắc lại hai sự kiện cụ thể của cuộc chiến đấu và chiến thắng oanh liệt chống quân Mông – Nguyên. – Hai câu cuối suy tư về trách nhiệm của bản thân trước nền hoà bình, độc lập lâu dài của dân tộc. 2. Chiến thắng hào hùng của dân tộc Hai câu thơ đầu đã ghi lại trận thủy chiến dữ dội diễn ra trên Sông Hồng Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm hồ Hàm Tử Quan Dịch nghĩa là Cướp giáo giặc ở bến Chương Dương Bắt quân Hồ ở cửa Hàm Tử Bằng phép liệt kê và phép đối, Trần Quang Khải đã làm nổi bật hai sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là trận chiến diễn ra tại bến Chương Dương và cửa Hàm Tử. Thực ra, chiến thắng tại cửa Hàm Tử diễn ra trước 4 – 1285. Và hai tháng sau 6 – 1285 là chiến thắng Chương Dương. Như chúng ta đã biết, ở trận Hàm Tử, Trần Nhật Duật là người chỉ huy trực tiếp trận đánh. Còn trận đánh ở bến Chương Dương, Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân trực tiếp chỉ huy giành thắng lợi giòn giã. Và sau đó, trong niềm vui chiến thắng, ông và quân lính phò giá vua về kinh thành Thăng Long. Chính trong niềm vui chiến thắng cộng hưởng cùng niềm vui được phò giá vua về kinh đã lay động tâm hồn thi sĩ của vị tướng văn võ toàn tài nên trong phút ngẫu hứng, Trần Quang Khải đã nhắc tới trận Chương Dương trước rồi mới hồi tưởng lại chiến thắng giòn giã hai tháng trước đó. Hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã gợi lên cả một không khí chiến đấu vô cùng dũng cảm, quyết liệt của quân dân ta. Cụm từ “đoạt sáo” cướp giáo và “cầm Hồ” bắt quân Hồ đặt ở vị trí đầu câu như một nốt nhấn về chiến công oanh liệt của quân và dân Đại Việt ta. Trong nguyên tác, Trần Quang Khải sử dụng từ “đoạt” – nghĩa gốc là lấy hẳn về cho mình qua đấu tranh với người khác. Sử dụng cụm từ “đoạt sáo”, nhà thơ muốn nhấn mạnh và ca ngợi chiến thắng chính nghĩa của quân ta. Nhưng bản dịch lại là “cướp giáo” đã làm giảm bớt đi phần nào vẻ đẹp chiến công của ta. Còn ở cửa Hàm Tử, Trần Nhật Duật bắt sống tướng Toa Đô. Trong hai trận đánh, hàng vạn quân giặc bị tiêu diệt, bị bắt làm tù binh. Lời thơ không hề nói đến cảnh chết chóc nơi chiến trận mà chỉ nhắc đến hai hành động “đoạt sáo” và “cầm Hồ”. Cách nói nhẹ nhàng nhưng đã nhấn mạnh mục đích chiến đấu của quân dân ta. Chúng ta chỉ muốn giành lại chủ quyền, độc lập của dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ nền hoà bình của đất nước. Chiến công tiếp nối chiến công, niềm vui dồn dập như những nốt nhạc vui trong khúc ca khải hoàn. Kinh thành Thăng Long hoàn toàn giải phóng. Quân xâm lược bị quét sạch khỏi đất nước ta. Đó là những ngày tháng vinh quang của dân tộc. Mùa hè năm Ât Dậu 1285 là mùa hè mà niềm vui trào dâng sông núi. Cảm hứng yêu nước dạt dào trong những vần thơ hùng tráng mang phong vị anh hùng ca. 3. Khát vọng thái bình thịnh trị muôn thuở của dân tộc Đại Việt Hai câu thơ cuối, âm điệu thơ như lắng xuống. Tác giả nghĩ về tương lai đất nước trong ngày mai thanh bình Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thủ giang san. Dịch nghĩa Thái bình rồi nên dốc hết sức lực Muôn đời vẫn có non sông này Nhà thơ như tự nhắn nhủ với chính mình. Nhiệm vụ trước mắt là nhiệm vụ lâu dài “Thái bình tu trí lực”. Sau chiến thắng vang dội, sau niềm vui của khúc ca khải hoàn là nhiệm vụ đầy khó khăn trước mắt. Chúng ta đừng ngủ say trong chiến thắng mà quên nhiệm vụ của thời bình. Mỗi người con dân Đại Việt phải cố gắng đem hết sức mình ra để xây dựng đất nước. Đất nước đã sạch bóng ngoại xâm, một viễn cảnh thái bình thịnh trị đang mở ra, Trần Quang Khải nhắc mình nêu cao tinh thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực của mình. Đồng thời, ông động viên mọi người dân gắng sức, đồng lòng, phát huy thành quả sau chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình, bền vững lâu dài. Câu thơ kết “Vạn cổ thử giang san” Muôn đời vẫn có non sông này vừa chỉ ra cái đích cuối cùng là bảo vệ nền hoà bình, thịnh trị của non sông Đại Việt vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khao khát mãnh liệt về một tương lai sáng muôn đời của dân tộc. Phò giá về kinh xứng đáng là khúc ca khải hoàn đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. * Bài thơ đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trị muôn đời của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Đồng thời qua đó, bài thơ cũng thể hiện tình yêu đất nước mãnh liệt, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của tác giả đối với tương lai đất nước. Thống kê tìm kiếmcam nghi ve bai pho gia ve kinhphat bieu cam nghi ve bai tho pho gia ve kinhcảm nghĩ bài phó giá về kinhhttps//baigiaihay com/cam-nghi-ve-bai-tho-pho-gia-ve-kinh-cua-tran-quang-khai html Phân tích bài thơ Phò giá về kinh - Hướng dẫn lập dàn ý chi tiết và tham khảo một số bài văn mẫu hay phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ Phò giá về kinh Trần Quang Khải.Dàn ý phân tích bài thơ Phò giá về kinh1. Mở bàiGiới thiệu về tác giả, tác phẩm- Trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước ta, ghi dấu ấn lại bằng những chiến thắng oanh liệt trước giặc xâm lăng, trong số đó phải kể đến chiến thắng vang dội khiến giặc ngoại xâm phải khiếp sợ đó chính là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ “Phò giá về kinh” được Trần Quang Khải sáng tác khi mà quân và dân đã giành chiến thắng vang dội, vua và dân nhà Trần quay trở về kinh đô Thăng Long. Đây được coi là bài ca khải hoàn ca đầy lẫy lừng của dân tộc ta. Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, bằng chữ Thân bài- Phân tích hai câu thơ đầu+ Mở đầu bài thơ là hai câu thơ nhắc đến hai chiến thắng lịch sử đánh dấu ấn quan trọng trong việc phá tan giặc Nguyên Mông đó là chiến thắng tại Chương Dương và Hàm Tử năm 1285“Đoạt sáo Chương Dương độ,Cầm Hồ Hàm Tử quan.”+ Hai câu thơ có thể được dịch như sau “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù”.+ Chương Dương và Hàm Tử chính là hai địa danh thuộc tả và hữu của con sông Hồng. Dưới sự chỉ huy của vị tướng tài ba Trần Quang Khải quân và dân ta đã dành chiến thắng vẻ vang tại hai phòng tuyến quan trọng này.+ Hai câu thơ tuy rằng không nhắc đến sự khốc liệt của cuộc chiến, đến binh đao đến máu chảy nhưng hai động từ “đoạt sáo” và “cầm hồ” đã thể hiện được ý chí chiến đấu vô cùng ngoan cường của quân và dân ta.=> Lời thơ như đưa ta vào giữa cuộc chiến tranh, được đứng giữa cái cảm giác nâng nâng của sự chiến thắng, chiến thắng đã vang động cả đất trời.– Phân tích hai câu thơ cuối+ Tương lai của đất nước được Trần Quang Khải suy ngẫm và nhắn nhủ đến toàn thể dân tộc “Thái bình nên gắng sức,/ Non nước ấy ngàn thu”.+ Đây là lời nhắn nhủ của vị tướng tài ba kiệt xuất về tương lai của đất Việt, nền thái bình là tất cả mọi người từ già trẻ lớn bé, gái trai từ vua đến quân, dân đều phải tự ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ nền thái bình đó “tu trí lực”,=> Muốn như thế mỗi con người chúng ta cần tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, tài năng cống hiến cho đất nước, tinh thần đoàn kết chính là sức mạnh vượt qua mọi khó khăn thử thách.+ Câu kết “Vạn cổ thử giang san” chính là sự nhấn mạnh của Trần Quang Khải kết quả của sự cố gắng dựng xây và bảo vệ đất nước kia chính là “Non nước” ấy lưu danh ngàn đời trường tồn đến hàng ngàn năm sau, đây cũng chính là ước mơ của tác Kết bài- “Phò giá về kinh” đã ra đời đến mấy trăm năm lịch sử nhưng giá trị mà bài thơ để lại vẫn còn vẹn nguyên cho đến ngày nay. Vị danh tướng tài ba - một nhà thơ lớn của dân tộc Trần Quang Khải đã dành hết tâm tư của mình cho bài thơ, nhắc nhủ đến toàn thể nhân dân, chính đoàn kết là sức mạnh dẫn đến chiến thắng, đồng thời cũng nêu lên tinh thần tự hào dân tộc và nhắc nhở mọi người cần tu dưỡng tài năng, đạo đức cống hiến của tổ bài văn mẫu hay nhất phân tích bài thơ Phò giá về kinhPhò giá về kinh là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Trần Quang Khải, đứng trong hàng ngũ những bài thơ yêu nước xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Bài thơ vừa thể hiện âm hưởng chiến thắng hào hùng vừa cho thấy tầm nhìn xa trông rộng về đường hướng phát triển đất nước của tác thơ làm ngay sau khi quân ta giành chiến thắng, lúc đó Trần Quang Khải đi đón và hộ giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long. Bởi vậy bài thơ ra đời trong âm vang chiến thắng hào hùng của chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy chiến câu thơ đầu là cảm hứng tự hào trước những chiến công của thời đại, mang tính thời sự nóng hổi Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù. Câu thơ ngắn gọn, chỉ có năm chữ mà chắc nịch ý tứ và niềm vui. Câu thơ như dồn nén sức mạnh và sự thần tốc, chớp nhoáng của các chiến công. Các động từ mạnh mẽ, dứt khoát đoạt, cầm mang phong cách của một vị tướng. Đồng thời còn diễn tả được không khí sục sôi của những sự kiện lịch sử có ý nghĩa xoay chuyển cục diện chiến trường. Chương Dương là trận đấu mở màn nhưng lại có ý nghĩa quyết định đến chiến thắng của cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai. Câu thơ vang lên thật hào sảng, hân hoan niềm vui. Đầu mỗi câu thơ gắn với hai địa danh Chương Dương, Hàm Tử đây là những địa danh chói lọi gắn liền với những chiến công lịch sử của dân tộc, nó cũng trở thành biểu tượng cho thắng lợi huy hoàng. Nhắc lại hai địa danh đó càng làm niềm vui, niềm tự hào được nhân lên hơn nữa. Ngoài ra tác giả còn sử dụng từ ngữ mang sắc thái biểu cảm chữ Hồ thường được người phương Bắc dùng để gọi các dân tộc thiểu số phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc. Bởi vậy khi dùng chữ này với quân xâm lược Mông – Nguyên tác giả thể hiện sự khinh với niềm vui chiến thắng, nhưng đằng sau đó ta vẫn thấy một Trần Quang Khải có tầm nhìn xa trông rộng, hết sức quan tâm đến vận mệnh đất nước. Hai câu thơ trên lướt nhanh qua những dòng sự kiện để rồi đọng lại những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu. Hai câu thơ cho thấy cho thấy suy nghĩ, tầm nhìn của một vị thủ lĩnh, trong niềm vui chung của đất nước, ông không bị cuốn đi, không an lạc trong chiến thắng mà vẫn nêu lên nhiệm vụ sau khi giành được độc lập. Ông nêu lên trách nhiệm dẫu thái bình vẫn phải dốc hết sức lực để xây dựng, phát triển đất nước, có như vậy sông núi nước Nam mới bền vững muôn thuở. Hai câu thơ cuối vừa là chân lí vừa là kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu lâu dài của dân tộc. Cũng chính bởi lời dặn dò ấy, mà nhân dân ta đã tiếp tục đánh thắng sự xâm lược của quân Mông - Nguyên lần tiếp theo, cũng bởi thế mà vận mệnh đất nước lâu bền, thịnh trị, nhân dân được sống trong cảnh yên ấm, hạnh phúc. Câu thơ đã thể hiện tầm nhìn của một con người có hiểu biết sâu rộng, cái nhìn sáng suốt, chiến lược trong tương thơ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với số câu chữ ít ỏi, nhưng vô cùng hàm súc. Số câu chữ ít ỏi những đã khái quát đầy đủ sự kiện lớn của dân tộc và nêu lên chân lí lớn của thời đại. Kết cấu thơ chặt chẽ, ngôn từ chọn lọc, nhịp thơ ngắn gọn, kết hợp giữa biểu ý và biểu cảm. Vừa đưa ra những sự kiện lịch sử chính vừa thể hiện niềm vui, sự hân hoan trước chiến thắng và những suy tư, chiêm nghiệm sau khi đất nước đánh bại quân xâm thơ với ngôn ngữ chọn lọc, cô đọng giàu sức biểu cảm đã cho thấy hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trịnh của nhân dân đời Trần. Đồng thời khẳng định chân lí vừa mang ý nghĩa thời sự vừa mang ý nghĩa lịch sử“Thái bình nên gắng sứcNon nước ấy ngàn thu”.Tham khảo thêmPhát biểu cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinhHướng dẫn soạn bài Phò giá về kinhBài mẫu 1Trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên xâm lược đời Trần, Thượng tướng Trần Quang Khải đã lập được nhiều chiến công to lớn. Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư. Bài thư nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể Đường luật ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tuy tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn dầu tiên của dân tộc ta trong cồng cuộc kháng chiến chống ngoại thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa dược đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng - thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ HánĐoạt sáo Chương Dương độ,Cầm Hồ Hàm Tử bình tu trí lực,Vạn cổ thử giang đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim Chương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầuChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chỉ nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định để giành thắng lợi cuối cùng?Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và các triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước tháng 4 năm 1285, chiến thắng Chương Dương sau tháng 6 năm 1285.Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước - Hàm Tử - người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được "phò giá" dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dùng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú,... Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết. Ở mỗi chiến thắng, cũng đúc lại bằng hai từ "đoạt sáo" cướp giáo, "cầm Hồ" bắt quân Hồ.Cần chú ý câu thơ nguyên tác "đoạt sáo". "Đoạt" nghĩa gốc là "lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác". Như vậy, dùng từ "đoạt sáo", nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ "cướp giáo" làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hòa, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động "đoạt sáo", "cầm Hồ".Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lai đất nướcThái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng "tu trí lực", tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực. Đồng thời ông động viên quân dân "gắng sức, đồng lòng" phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết "Vạn cổ thử giang san" vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hoà với niềm tin, niềm hi năm sau khi bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng lăng vua Trần Thái Tông, đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơXã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,Sơn hà thiên cổ điện kim âu.Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,Non sông nghìn thuở vững âu vàngPhải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Thượng tướng Trần Quang Khải ? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hào khí Đông A ? Hào khí Đông A nghĩa là thế nào ? Đông A là chiết tự tên họ Trần, gồm hai chữ chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chỉ là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, lại với bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu sắc, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như "Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn". Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả - người sống cách chúng ta gần một ngàn năm. Nếu ta gọi bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, thì cũng có thể coi Phò giá về kinh là khúc khải hoàn ca đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bài thơ Phò giá về kinh đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà mẫu 2Thượng tướng Trần Quang Khải là một vị tướng văn võ song toàn, từng có công rất lớn trong hai cuộc chiến chống quân Mông - Nguyên. Sau chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, chiến thắng giải phóng kinh đô năm 1285, ông được cử đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về kinh. Trên đường đi, ông đã sáng tác bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư”. Đây là khúc khải hoàn đầu tiên của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại câu đầu của bài thơ thể hiện chiến thắng hào hùng vang dội của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông xâm sáo Chương Dương độCầm Hồ Hàm Tử quanChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân thù.Như chúng ta đã biết, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời vua Trần, nhân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng tại sao Trần Quang Khải chỉ nói đến chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử mà không hề nhắc đến trận Bạch Đằng? Phải chăng đây là hai chiến thắng tiêu biểu, có tính quyết định dứt khoát để giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, được trở về kinh đô, trở về nhà trong niềm vui sướng? Trong thực tế lịch sử, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước, chiến thắng Chương Dương sau. Tại sao tác giả lại nói ngược lại, nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Tìm hiểu lịch sử, ta thấy rằng, người chỉ huy trận Hàm Tử là tướng Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn ở trận Chương Dương, Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó được cử hộ giá nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền với niềm vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp cộng hưởng cho nhau. Có lẽ vì thế mà trong phút ngẫu hứng, vị tướng đã nhắc ngay đến chiến thắng Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch, quân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, khí thế, quyết đoán. Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn với hai động từ mạnh đó là “đoạt” và “cầm”. “Đoạt” nghĩa là “lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi nhận chiến công vùa ngợi ca hành động chính nghĩa, dũng cảm của quân ta. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí của giặc thì ở Hàm Tử, ta bắt sống được tướng giặc ngay tại trận. Trong chiến trận chắc chắn có thương vong, tổn hại lực lượng của cả bên ta lẫn bên địch. Nhưng lời thơ không đề cập đến, vì mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là giết kẻ thù mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải trả lại đất nước cho ta. Giọng thơ khỏe khoắn, hùng tráng, âm điệu tươi vui, rộn ràng làm ta có cảm giác vị tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vùa đi vừa cất tiếng ngâm thể nói, hai câu thơ trên đã tái hiện không khí chiến thắng oanh liệt, tình cảm phấn chấn, tự hào của nhà thơ trên đường hộ tống nhà vua về xuống hai câu sau, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ dường như đang suy nghĩ về tương lai đất nướcThái bình tu trí lực,Vạn cổ thử giang san.Thái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn thu.Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về tương lai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng của một người đã trở thành động lực, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao tinh thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, bởi tu dưỡng trí tuệ, rèn luyện sức lực là hai yếu tố tiên quyết của một con người và một dân tộc nếu muốn làm nên chiến thắng, muốn xây dựng hòa bình. Đồng thời, ông động viên quân dân gắng sức, đồng lòng phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình, bền vững dài lâu chứ không được ngủ quên trên chiến thắng. Câu thơ cuối vừa chỉ ra cái chặng đường đi tiếp của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ lại mang tính biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa với niềm tin, niềm hy vọng của quân dân câu thơ sau là khát vọng hòa bình sau khi giành được chiến thắng vang dội và sự mong muốn xây dựng nền hòa bình cho đất nước lâu dài. Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng, đồng thời cũng là lời nhắn nhủ với quân dân chúng ta không được phép ngủ quên trên chiến thắng. Điều đó thể hiện trí tuệ, biết lường trước được mọi việc, tầm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh đạo tài ba biết lo cho dân cho nước. Để cho non nước được nghìn thu, hòa bình bền vững, thì khát vọng hòa bình không chỉ là khát vọng của riêng của người lãnh đạo mà còn là khát vọng chung của cả dân cách nói chân thành, với câu chữ giản dị, mộc mạc, “Tụng giá hoàn kinh sư” đã thể hiện hào khí chiến thắng vang dội và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta trong thời đại nhà đây là nội dung dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu với chủ đề phân tích bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải. Bằng việc đọc và tham khảo kết hợp với những tri thức đã được học trên lớp về tác phẩm, các em hoàn toàn có thể viết được một bài văn hoàn chỉnh đảm bảo yêu cầu đề bài. Chúc các em học tốt ! Văn mẫu lớp 7Những bài văn mẫu hay lớp 7Văn mẫu lớp 7 Nêu cảm nghĩ của về “Phò giá về kinh” gồm nhiều bài văn mẫu, dàn bài hay giúp các em học sinh và phụ huynh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham cảm nghĩ của về “Phò giá về kinh” mẫu 1Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải 1241-1294, con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, không những là một danh tướng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh Tụng giá hoàn kinh sư cũng đủ để thành một tên thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải 10 phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng- nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹpChương Dương cướp giáo giặc,Hàm tử bắt quân bình nên gắng nước ấy ngàn thu.Trần Trọng Kim dịchDường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nên cả lại vào bốn dòng ngũ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng caChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân Dương và Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương-Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng bởi tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí, và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khácThái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghỉ ngơi chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công, đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục!Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết tu trí lực của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của muôn triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhân văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn cảm nghĩ của về “Phò giá về kinh” mẫu 2Việt Nam là đất nước có lịch sử dân tộc đáng tự hào. Trải qua biết bao thăng trầm trong lịch sử, đã có những lúc đất nước ta bị xâm lược, đô hộ cả ngàn năm. Thế nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì toàn dân tộc Việt Nam vẫn mang ý chí mạnh mẽ, quyết tâm không bao giờ chịu làm nô lệ của kẻ khác. Và trong lịch sử đầy chói lọi ấy, “phò giá về kinh” tụng giá hoàn kinh sư của thượng tướng Trần Quang Khải hiện lên như một viên ngọc sang- là khúc ca khải hoàn đầu tiên của dân tộc. Đây là bài thơ đầu tiên trong lịch sử được sang tác ra để nói lên ý chí tự hảo dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu tranh và đã giành được thắng lợi trước quân Mông Nguyên. “phò giá về kinh” được sang tác trong hoàn cảnh tướng Trần Quang Khải được vinh dự phò giá nhà vua để trở về kinh thành sau kế hoạch “vườn không nhà trống” của vua tôi nhà Trần chống lại quân xâm lược. Mở đầu bài thơ hai câu thơ nói lên thắng lợi hung tráng của quân dân ta trong chiến đấu với quân xâm sáo Chương Dương độCầm Hồ Hàm Tử quanHayChương Dương cướp giáo giặcHàm Tử bắt quân thùMở đầu là hình ảnh của những địa điểm diễn ra những trận đánh lớn mà tại đó, quân và dân ta đã đạt được những thắng lợi vang dội. Tại sao lại là hai địa điểm Chương Dương và hàm Tử. Để giải thích điều này, chúng ta hãy cùng nhau quay lại lịch sử của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên đời Trần, quân và dân ta đã giành được rất nhiều thắng lợi trong nhiều chiến dịch, nổi bật nhất trong số đó là trận chiến trên sông bạch Đằng. thế nhưng tướng Trần Quang Khải lại nhắc tới trận Chương Dương và hàm Tử trước. Bởi lẽ, đây là hai trận chiến cuối cùng mang tính quyết định chiến thắng toàn bộ quân xâm lược. Trước đó, để đánh lừa quân địch, toàn bộ kinh thành đã phải sơ tán đi tới khu vực nông thôn theo kế sách “vườn không nhà trống”. có lẽ thế nên khi được vinh dự phò tá nhà vua trở về kinh thành, tướng Trần Quang khải mới không thể đè nén được xúc động và thể hiện sự tự hào, vui sướng cho chiến thắng của nhân dân dù trên thực tế, trận chiến Hàm Tử có trước rồi mới tới trận chiến Chương Dương. Thế những vị tướng tài ba lại nhắc theo thứ tự ngược lại. Đây là những chi tiết hết sức thú vị. tìm hiểu dòng lịch sử, chúng ta biết rằng ở trận chiên Hàm Tử, Trần Quang Khải là người tham gia hỗ trợ còn Tràn Nhật Duật mới là vị tướng chỉ huy chính. Còn trong trận chiến thứ hai, tức là trận chiến Chương Dương thì tướng Trần Quang Khải là người trực tiếp thống lĩnh toàn bộ quân dân chiến đấu một trận chiến khốc liệt nhưng cũng rất vẻ vang mang lại chiến thắng toàn cục cho đất nước ta. Niềm vui chiến thắng cùng hòa nhịp với niềm vui được phò giá nhà vua trở về như khiến sự vui tươi, hãnh diện và tự hào của vị tướng như được nhân đôi. Ông liên tưởng những sự kiện trên theo thời gian từ gần tới xa. Đầu tiên, ông nghĩ ngay tới trận đánh Chương Dương rồi sau đó như ngẫm lại mới nhắc tới trận Hàm Tử. tất cả những chí khí của quân ta được ông đúc kết trong những chữ như “ đoạt sáo” cướp giáo, ”cầm hồ” bắt quân Hồ. Chỉ với hai từ những đã thể hiện hết sức rõ rang những hành động của chúng ta. “đoạt” là lấy hắn được về phía bên mình qua những cuộc đấu tranh với người khác. Bởi thế “đoạt sáo” không những làm nổi bật hình ảnh dũng cảm chiến đấu của nhân dân ta mà còn thể hiện sự tích cực, chính nghĩa. Chúng ta không đi cướp, chúng ta chỉ đòi lại những gì là của chúng ta mà thôi, không thể để cho kẻ thù lấy đi và chèn ép được. do đó, bản dịch nghĩa sử dụng từ “cướp giáo" phần nào đã làm mất đi ý nghĩa vốn có của từ ngữ gốc do tác giả sang tác. Ở Chương Dương, chúng ta đã giành được vũ khí của quân giặc, thì ở trận chiến Hàm Tử, chúng ta đã bắt sống được tướng địch. Mỗi lần đấu tranh chúng ta lại lấy được những lợi phẩm khác nhau, thế nhưng tổng kết lại thì đó lại là thắng lợi hoàn toàn, thắng lợi toàn cục và quan địch phải nhận lấy kết quả thất bại ê chề. Những câu thơ không hề có những hình ảnh đổ máu, chém giết đã làm cho tinh thần chính nghĩa của những câu thơ như thêm phần sâu sắc và cũng là khẳng định lại mục đích chiến đấu của nhân dân ta là bảo vệ bờ cõi chứ không hề đi cướp bóc, gây mất đoàn kết giữa các nước với nhau. Những ý thơ với mạch thơ nhanh, gọn cũng là nét tiêu biểu cho những khúc ca khải hoàn sau bình tu trí lựcVạn cổ thử giang sanHay Thái bình nên gắng sứcNon nước ấy ngàn thuNếu như hai câu đầu của đoạn thơ chỉ là hình ảnh của những trận chiến thắng oanh liệt của dân tộc thì hai câu tiếp theo chính là lời tự nhắc nhở bản than mình của cả quân và dân tộc chúng ta. Lần đầu tiên mà ý chí của một người đã được nâng lên thành ý chí của nhiều người. tác giả cho rằng, chiến tranh sử dụng vũ lực chỉ là bất đắc dĩ mà thôi. Còn trau dồi phẩm chất, đạo đức và trí tuệ của toàn dân tộc mới là cái gốc, cái cội nguồn để cả đất nước có chung một tinh thần, ý chỉ sắt đá mà không một đất nước nào có thể xâm phạm được. có thể thấy, tướng Trần Quang Khải là một trong những người có ánh nhìn rất sâu xa, biết khi nào nên vận dụng những gì để giúp cho đất nước mãi duy trì được cảnh thái bài thơ trên, ta càng thêm yêu lịch sử của dân tộc với những nét thăng trầm nhưng lại luôn luôn mang ý chí kiên cường, bền bỉ, không chịu nhục trước bất cứ một điều nguy hiểm nào. Đạo lí ấy không chỉ được vận dụng trong chiến tranh ngày xưa mà còn được áp dụng cho tới tận bây giờTrên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 7 Nêu cảm nghĩ của về “Phò giá về kinh”. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 7 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Nêu cảm nghĩ về cánh đồng quê hương Thầy cô xin giới thiệu 50 bài văn Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh hay nhất, chọn lọc giúp học sinh lớp 7 viết các bài tập làm văn hay hơn. Tài liệu gồm có các nội dung chính sau Mục lục 1 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh2 Dàn ý Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh3 Video Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh4 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 15 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 26 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 3 7 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 4 8 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 5 9 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 6 10 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 7 11 Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 8 Dàn ý Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh I. Mở bài Giới thiệu khái quát về tác giả Trần Quang Khải, tác phẩm Phò giá về kinh. Cảm nghĩ chung về bài thơ Phò giá về kinh. II. Thân bài Bạn đang xem Top 50 bài Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh hay nhất 1. Hào khí chiến thẳng của quân dân ta – Hai câu đầu nói về chiến thắng của quân và dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của người chỉ huy chính là tác giả. – Động từ “đoạt, cầm” kết hợp với các địa danh “Chương Dương”, “Hồ Hàm Tử” góp phần làm nổi bật sự hào hùng và không khí chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. – Đây đều là những trận chiến gây được tiếng vang lớn. => Không chỉ ca ngợi chiến công của quân dân ta mà còn thể hiện lòng tự hào dân tộc. 2. Khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta – Câu thơ 3 Thái bình tu trí lực Thái bình nên gắng sức. Sau khi đánh bại quân thù, đất nước giành được độc lập bước vào thời bình, cần phải xây dựng và phát triển đất nước. – Câu thứ 4 Vạn cổ thử giang sang Non nước ấy ngàn thu. Khẳng định sự tồn vong bất diệt của đất nước đến muôn đời. => Đây không chỉ là mong muốn của riêng tác giả mà còn là mong muốn của cả một quốc gia, dân tộc. III. Kết bài Đánh giá lại giá trị của Phò giá về kinh. Video Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh Video Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 1 Trần Quang Khải không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một người có tài văn chương. Bài thơ “Phò giá về kinh” của ông đã giúp người đọc cảm nhận được hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần “Đoạt sóc Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử giang san” Bài thơ được làm lúc tác giả đi đón Thái thượng hoàng Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long Hà Nội ngày nay ngay sau chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm 1285. Hai câu đầu, Trần Quang Khải đã nói về chiến thắng của quân và dân ta, trong đó có sự đóng góp to lớn của người chỉ huy, cũng chính là tác giả. Việc sử dụng một loại các động từ mạnh như “đoạt, cầm” kết hợp với các địa danh “Chương Dương”, “Hồ Hàm Tử” góp phần làm nổi bật sự hào hùng và không khí chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Điều đó cho thấy được chiến công to lớn của quân đội nhà Trần. Nhưng không dừng lại ở đó, nhà thơ còn gửi gắm lòng tự hào dân tộc. Sau khi nói đến chiến thắng lừng lẫy của quân dân nhà Trần, tác giả bộc lộ khát vọng về một đất nước thịnh trị. Đất nước giành được độc lập thì khi bước vào thời bình, cần phải xây dựng và phát triển đất nước. Như vậy thì quốc gia mới tồn tại đến muôn đời. Có thể thấy rằng đây không chỉ là mong muốn của riêng tác giả mà còn là mong muốn của cả một quốc gia, dân tộc. Với cách nói giản dị, cô đúc đã tóm gọn được những vấn đề trọng đại của đất nước chiến thắng cũng như những nhiệm vụ trong thời bình chỉ trong vài câu thơ ngắn. Tóm lại, Phò giá về kinh là một bài thơ tứ tuyệt cô đọng, hàm súc. Bài thơ còn nguyên giá trị đến muốn đời sau. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 2 Trang sử vẻ vang của dân tộc đã được tái hiện qua những tác phẩm văn học. Một trong số đó là bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần quang Khải đã thể hiện lòng yêu nước cháy bỏng, khát vọng thái bình thịnh trị đến muôn đời “Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san” Tác phẩm được sáng tác trong hoàn cảnh Trần Quang Khải đi đón Thái thượng hoàng Trần Thái Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long Hà Nội ngày nay ngay sau chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử và giải phóng kinh đô năm 1285. Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà hàm súc đã gửi gắm được nhiều ý nghĩa sâu sắc. Mở đầu bài thơ, người đọc cảm nhận được không khí sôi nổi, hào hùng. Hai động từ mạnh “đoạt” và “cầm” miêu tả chiến thắng oanh liệt của quân dân nhà Trần trong hai trận chiến Chương Dương và Hàm Tử. Cách liệt kê hai địa danh khiến cho ý thơ thêm cụ thể, sâu sắc. Cách dịch thơ cũng không khác so với nguyên tác “Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù” Vị anh hùng thời đại nhà Trần đã tuyên bố về chiến thắng của nhân dân Đại Việt trước kẻ thù một cách thật hùng hồn. Đó là do sức mạnh vô địch của tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn của tướng sĩ trong cuộc chiến đấu cam go. Bài thơ vang lên như một khúc khải hoàn ca. Hai câu thơ tiếp theo, ý thơ có sự chuyển biến. Trần Quang Khải bày tỏ khát vọng thái bình thịnh trị “Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san” Khát vọng mạnh mẽ nhất của nhà thơ, cũng là của dân tộc là làm sao dựng xây lên được một quốc gia hùng mạnh, no ấm, tồn tại tới ngàn năm. Giọng thơ lúc này không còn dồn dập, sôi nổi mà gửi gắm nhiều tâm tư, khao khát. Đó cũng là lời nhắn nhủ tràn đầy niềm tin và hy vọng về tương lai đất nước sẽ giàu đẹp, phát triển. Đó là tầm nhìn xa trộng rộng của một con người hơn người. Như vậy, chỉ với bốn câu thơ, Trần Quang Khải đã thể hiện được hào khí của dân tộc. Cũng như khát vọng về quốc gia thịnh trị vẫn còn nguyên giá trị đến muôn đời. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 3 Những trang lịch sử chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương đất nước của dân tộc Việt Nam thật oanh liệt, hào hùng. Người viết nên những trang sử vẻ vang ấy chính là bao vị anh hùng và nhân dân các thời đại, mà ở thời đại nào, lòng yêu nước nơi họ cũng tỏa sáng rực rỡ. Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải là một trong những vị anh hùng như thế, ông đã đem trọn tài năng, phẩm chất, khí tiết để dâng hiến cho non sông, góp phần đánh tan quân giặc xâm lược Mông – Nguyên mạnh như hổ đói, khi chúng vào giày xéo mảnh đất quê hương. Bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần quang Khải đã thể hiện lòng yêu nước cháy bỏng của ông và một khát vọng mạnh mẽ muốn xây dựng quê hương giàu mạnh đến ngàn thu Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san. Bài thơ trên đây có một hoàn cảnh ra đời khá đặc biệt, mà muốn hiểu hết giá trị của nó, ta cần nhắc tới Đó là năm 1285, sau chiến thắng vang dội ở Chương Dương và Hàm Tử, kinh đô được giải phóng. Trong niềm vui chiến thắng rộn ràng, Trần Quang Khải đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long. Hào khí Đông A của thời đại nhà Trần ở lúc thịnh nhất, Trần Quang Khải đã tràn trề cảm xúc tự hào và tin tưởng khi sáng tác bài thơ này. Nhà thơ chọn thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt cực kỳ ngắn gọn, hàm súc để thể hiện niềm vui mạnh mẽ trong lòng ông. Cảm nhận đầu tiên khi đọc bài thơ là giọng thơ sôi nổi, dứt khoát với cách ngắt nhịp 2/3, khiến ta thấy ngay đây là giọng thơ của một nhà thơ võ tướng. Hai động từ mạnh “đoạt” và cầm” miêu tả chiến thắng oanh liệt của quân dân ta với niềm tự hào bất tận, vì chính nhà thơ là người giữ vai trò lãnh đạo hai trận chiến khốc liệt mà vinh quang ở Chương Dương và Hàm Tử. Cách liệt kê hai địa danh khiến cho ý thơ thêm hào hùng. Phép đối của thơ ngũ ngôn tứ tuyệt thật chuẩn, ngay cả ở phần dịch thơ cũng chứa đầy hào khí Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù. Người nam nhi thời Trần đã lập nên nghiệp lớn, dẫn đầu binh sĩ đánh bại cả một đoàn quân bạo tàn từng nghênh ngang cho rằng gót ngựa chúng đi tới đâu thì ngay cả cỏ cũng không mọc nổi. Thế nhưng qua lời tuyên bố ngắn gọn như trên, vị anh hùng thời đại nhà Trần đã tuyên bố về chiến thắng của nhân dân Đại Việt trước bọn chúng. Đó là do sức mạnh vô địch của tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước nồng nàn của tướng sĩ trong cuộc chiến đấu cam go. Nhịp điệu nhanh mạnh của câu thơ thể hiện đúng không khí chiến thắng. Và lời thơ cất lên như một khúc khải hoàn ca làm nức lòng người. Có thể nói,nhà thơ đã viết lên lời ký sự ngắn gọn mà nóng bỏng ngay trong phút giây đáng tự hào nhất của thời đại Đông A. Chiến thắng giặc thù rồi, khát vọng của cả dân tộc và của triều đình đâu dừng lại. Nhà thơ nói lên khát vọng ấy Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san. Tức Thái bình nên gắng sức Non nước ấy nghìn thu Hai câu thơ đầu nói về chiến tranh, thì hai câu thơ cuối chuyển ngay sang nói về thời kỳ hòa bình và nhiệm vụ mới của dân tộc. Đây là sự chuyển mạch đột ngột nhưng hợp lý của bái thơ, thế là đã chấm dứt những ngày tháng “ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” Trần Quốc Tuấn, nhưng quân dân không thể ngủ quên trên chiến thắng. Khát vọng mạnh mẽ nhất của nhà thơ, cũng là của dân tộc là làm sao dựng xây lên được một quốc gia hùng mạnh,no ấm, tồn tại tới ngàn năm. Giọng thơ hai câu sau không còn nhanh mạnh, dồn dập như ở hai câu đầu, mà chuyển sang trầm lắng suy tư, như gói trọn bao chiêm nghiệm, khao khát ấp ủ của người anh hùng yêu nước trong một giai đoạn mới. Đó cũng là lời nhắn nhủ tràn đầy niềm tin và hi vọng về tương lai đất nước sẽ đẹp giàu, mạnh mẽ, không kẻ thù ngoại xâm nào dám bén mảng đến. Ta thấy ở đây không chỉ là niềm tin và khát vọng, mà còn là trí tuệ uyên thâm, tầm nhìn xa rộng của một người cầm quân đánh giặc và lãnh đạo nhân dân xây dựng quê hương. Bài thơ tứ tuyệt thật hàm súc và độc đáo, cảm xúc cô đọng, dồn nén, với từng câu, từng chữ đều toát lên niềm tự hào bất tận và khát vọng vĩ đại dựng xây giang san. Còn nguyên vẹn trong bài thơ là chí khí của một người anh hùng vĩ đại thời Trần, cho đến ngày hôm nay, sự cao cả của tấm lòng yêu quê hương đất nước và mơ ước đẹp của nhà thơ vẫn là điều mà mỗi con người Việt Nam đang bền bỉ thực hiện, để “non nước ấy ngàn thu” vững bền và ngày một phát triển. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 4 Trần Quang Khải là một trong những vị anh hùng đem tài thao lược làm nên chiến công Chương Dương Hàn Tử lừng lẫy muôn đời. Bên cạnh là một võ tướng dũng mãnh ông còn có tài viết văn thơ. Ông cũng để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn và có giá trị đến tận ngày nay. Kể đến những tác phẩm tiêu biểu của ông ta không thể không nhắc đến tác phẩm “phò giá về kinh”. Tác phẩm được sáng tác khi ông đi tùy tùng đón vua về khinh thành thăng long Mở đầu bài thơ tác giả muốn giới thiệu đôi nét cho chúng ta về tình cảnh đất nước thời bấy giờ “Chương Dương cướp giáo giặc Hàm tử cướp quân thù” Hai câu thơ đầu tiên là hình ảnh chiến trận thảm khốc nhưng lại chứa đựng những nét thơ ca độc đáo. Chương dương và hàm tử là hai chiến thắng lừng lẫy của nước Đại Việt ta trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông cổ. Đối với nhân dân nhà Trần thì chỉ cần nhắc đến hai cái tên đó cũng đủ nức lòng. Tác giả chính là người chỉ huy trực tiếp chiến trận người góp phần rất lớn làm nên chiến công ấy thì cảm giác của tác giả cũng không kém phần bồi hồi xúc động nhớ nhung. Tác giả kể mà không tả, ông không trực tiếp kể ra trận chiến thảm khốc của nhân dân ta đã chiến thắng oanh dũng trước kẻ thù xâm lược, tuy vật việc chỉ kể ra như thế thôi cũng đủ làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng của nhân dân ta bởi tiếng gươm kiếm tiến ngựa hí tiếng binh khí và cả tiến gào thét vang dội cả trời đất. Đó chính là sức gợi cảm mà lại vô cùng cương nghĩ của tác phẩm Nếu hai câu thơ đầu tiên cho chúng ta một mạch cảm xúc chiến trận hào hùng bi tráng thì hai câu thơ tiếp theo lại hướng về cảnh thanh bình, đó chính là cảnh bình yên mà nhân dân ta đã cố gắng đánh đổi máu sương để có thể giành lại được. “Thái bình nên gắng sức Non nước lấy ngàn thu” Đây phải chăng chính là một lời tự nhủ của tác giả nói với chính bản thân mình về thân phận là quan phải phụng sự đất nước phò tá nhân dân thì nhân dân mới có thể được hưởng thái bình ấm no hạnh phú. Nhà thơ tự nói với mình, tự nhắc nhở mình về nhiệm vụ trước mắt cũng là nhiệm vụ lâu dài “Thái bình tu trí lực”. Giặc ngoại xâm đã bị quét sạch, đất nước được thái bình, các quý tộc, các vương hầu phải “tu trí lực”, nghĩa là nên gắng sức, đem tài trí. đem sức người, sức của ra xây dựng lại đất nước. Đó cũng !à điều tâm huyết mà nhà thơ muốn nhắc nhở mọi người. Lời thơ cho thấy nhặn quan sáng suốt, tầm chiến lược sâu xa của Trần Quang Khải, cho thấy tầng lớp quý tộc nhà Trần là lực lượng tiến bộ nhất trong xu thế đi lên của lịch sử dân tộc, đang nắm quyền lãnh đạo đất nước Đại Việt. Vì sự vững bền của giang sơn đến muôn đời mà “tu trí lực”. Lời thơ bình dị, nhưng ý tưởng chứa đựng bên trong, cái ý nhắc nhở của nhà thơ thì không chút tầm thường và đơn giả. Đó cũng là lời tự nhủ đối với toàn thể nhân dân ta thời bấy giờ. Tiếng nói khát vọng của một người đã trở thành ý nghĩ quyết tâm của toàn nhân dân ta thời bấy giờ. Tiếng nói khát vọng của một người đã trở thành ý nghĩ quyết tâm của toàn nhân tộc. Đồng thời nhân dân hãy gắng sức phát huy thành quả mà chúng ta mới có được nếu không rất có thể đất nước sẽ rơi vào cảnh nước mất nhà tan. Câu thơ cho chúng ta thấy được tình cảm của một vị tướng quân đối với đất nước khi mà ông mới trở về sau chiến trận nhưng lại quan tâm ngay đến thai bình của nhân dân không để nhân dân vì quá vui mừng cho chiến thắng mà lại quên đi nhiệm vụ xây dựng đất nước của dân tộc ta. Câu thơ kết mở ra cho chúng ta rất nhiều ý nghĩa Câu thơ vừa mở ra cái đích của đất nước lại vừa chỉ ra mong muốn khát khao của chính tác giả về một đất nước hòa bình an cư lạc nghiệp về tương lai tươi sáng của cả dân tộc. Nghĩa của câu thơ biếu ý nhưng nhạc của câu thơ lại biểu cảm. Lời thơ răn dạy hòa bình niềm hi vọng đối với nhân dân đất nước. Tác phẩm là một kiết tác trong nền thơ cổ văn học Việt Nam. Bài thơ có giá trị lịch sử như một tượng đài chiến công tráng lệ và nó đã làm sống lại những chiến công hào hùng của dân tộc ta. Đồng thời tác phẩm cũng cho chúng ta thấy được thế hệ con cháu chúng ta cần học tập thật tốt để xây dựng một đất nước giàu mạnh để đền đáp xứng đáng mong ước của nhân dân ta của cha ông ta. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 5 Trong văn học trung đại Việt Nam, yêu nước là một đề tài lớn thu hút đông đảo các nhà văn, nhà thơ chắp bút. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trong quá trình đó dân tộc ta liên tiếp phải đối phó với những vó ngựa của kẻ xâm lược. Tuy nhiên, bằng sức mạnh của lòng đoàn kết, của tinh thần đấu tranh, lòng tự tôn dân tộc, thì nước ta đã vượt qua bao thăng trầm, khẳng định được nền độc lập như ngày nay. Cũng viết về tình yêu tha thiết đối với đất nước cùng sự tự hào đối với sức mạnh của dân tộc, Trần Quang Khải đã sáng tác bài thơ “Phò giá về kinh”. Đọc bài thơ ta sẽ cảm nhận được thấm thía, tình yêu cũng như sự tự hào to lớn này. Bài thơ “Phò giá về kinh sư” được Trần Quang Khải sáng tác khi quân ta thu lại được kinh thành Thăng Long trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, lúc này tác giả đang nhận nhiệm vụ về Thiên Trường để bảo vệ, phò giá hai vị vua trở về kinh đô. Bài thơ này đã thể hiện được niềm tự hào to lớn về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta cũng như sức mạnh chống xâm lược của toàn quân, đồng thời qua đó cũng thể hiện được niềm tin mãnh liệt vào vận mệnh vững bền của quốc gia, dân tộc. “Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan” Dịch Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù Trong hai câu thơ đầu tiên, Trần Quang Khải đã gợi lại những chiến thắng hiển hách của dân tộc trong niềm tự hào. Đó chính là những chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử, tuy đây không phải những chiến thắng lớn nhất, lừng lẫy nhất của quân ta nhưng đây lại là những chiến thắng cuối cùng, quyết định sự thắng lợi của quân ta. Nhà thơ nhớ lại những giây phút hân hoan, đầy tự hào đó “Chương Dương cướp giáo giặc”, nhà thơ dùng những động từ chỉ hành động để nói về những chiến thắng của quân ta. Tuy nhiên, ta có thể thấy, ở phần phiên âm, nhà thơ dùng từ “đoạt” mang nhiều ý nghĩa hơn ở phần dịch thơ “cướp”. Vì về sắc thái, từ “cướp” chỉ hành động không chính nghĩa, dùng sức mạnh để chiếm đoạt, như vậy sẽ làm mất đi sự hào hùng vốn có của câu thơ. Từ “đoạt” vừa thể hiện được sự thắng lợi của quân ta với giặc khi đoạt được vũ khí – thứ mà chúng dùng để gây chiến tranh, gây ra đau khổ cho dân ta, mà còn thể hiện được tư thế, thái độ của người chiến thắng, quân ta đứng trên thế chủ động, dùng chính nghĩa mà đoạt đi giấc mộng bạo tàn, phi nghĩa của quân giặc. Hiểu như thế ta không chỉ thấy tính chính nghĩa của hành động mà còn thể hiện được tư thế của một dân tộc anh hùng, chính nghĩa. Ở của Hàm Tử cũng ghi dấu một trận chiến oai hùng, một chiến thắng thật đáng tự hào, đó là khi ta giành được thắng lợi cuối cùng, cái gian ác đã bị diệt trừ, nền độc lập được bảo vệ “bắt quân thù”. “Thái bình tu trí lực Vạn cổ cựu giang san” Dịch Thái bình nên gắng sức Non nước ấy nghìn thu Nếu ở hai câu thơ đầu, Trần Quang Khải đã dẫn ra những chiến thắng để thể hiện lòng tự hào về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, thì ở hai câu thơ cuối này, nhà thơ lại hướng đến khẳng định sự vững bền của nền độc lập, của không khí thái bình cũng như tin tưởng tuyệt đối vào vận mệnh trường tồn của đất nước. “Thái bình nên gắng sức”, thái bình là không khí hòa bình, yên ả của đất nước sau khi đã giành được độc lập, đã đánh đuổi được lũ giặc ngoại xâm. Ở câu thơ này, tác giả thể hiện niềm tự hào song cũng là lời nhắc nhở đầy chân tình “nên gắng sức”. Bởi Việt Nam luôn là đối tượng xâm chiếm của những kẻ thù, tuy ta có sức mạnh có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống giặc nhưng cũng không nên chủ quan, phải luôn gắng sức để duy trì không khí thái bình và đề cao sự cảnh giác đối với các thế lực bên ngoài. Nhà thơ còn thể hiện một niềm tin bất diệt đối với vận mệnh của đất nước, nhà thơ tin chắc rằng, khi toàn dân ta gắng sức cho nền độc lập, cho không khí thái bình ấy thì dân tộc ta sẽ không còn bị cản trở bởi bất cứ thế lực nào nữa, vận mệnh đất nước sẽ cứ vậy đi lên, cứ mãi vững bền “Non nước ấy nghìn thu”. Như vậy, bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải là một bài thơ đề cao sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tự hào về truyền thống anh hùng, truyền thống chính nghĩa ấy. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện được ý thức của bản thân nhà thơ đối với vận mệnh cũng như sự trường tồn của đất nước, không chỉ là ý thức cho mình, Trần Quang Khải còn đưa ra những lời khuyên chân thành đến với toàn thể nhân dân, những con người anh hùng của một dân tộc giàu truyền thống. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 6 Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải 1241-1294, con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, không những là một danh tướng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân tộc. Trần Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh Tụng giá hoàn kinh sư cũng đủ để thành một tên tuổi. Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải 10 phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng – nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹp Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức. Non nước ấy ngàn thu. Trần Trọng Kim dịch Dường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nên cả lại vào bốn dòng ngụ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc nịch. Hai câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng ca Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Chương Dương và Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương – Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi hồi. Tác giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng bởi tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí, và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở đó. Nên như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khác Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Vẫn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghỉ ngơi chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công, đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục! Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết tu trí lực của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân ông. Niềm mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của muôn triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhân văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn đời. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 7 Suốt chiều dài lịch sử, nước ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến đấu ác liệt mới có được nên độc lập như ngày hôm nay. Những cuộc chiến đấu ấy không chỉ được ghi lại qua những trang sử hào hừng, mà nó còn được ghi lại qua những bài văn, bài thơ. Một trong số đó là bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải- một tướng giỏi cũng là một người có những vần thơ đặc sắc. Bài thơ đã ghi lại cảm xúc của tác giả về chiến thắng khi trên đường đón hai vua Trần về Kinh. Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử gian san. Bài thơ được sáng tác năm 1285, khi Trần Quang Khải đi đón hai vua Trần sau khi đánh đuổi quân Thoát Hoan. Bài thơ với khí thế hào hừng mừng chiến thắng đã khái quát được chiến thắng của quân ta, đồng thời nêu ra được trách nhiệm của mỗi người trong thời bình. Mở đầu bài thơ là giọng thơ đầy tự hào khi nhắc đến những gì đã đạt được Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù Chỉ hai câu thơ ngắn gọn nhưng đã khái quát hết chiến thắng của quân ta. Tác giả chọn hình thức liệt kê, liệt kê ra những địa danh có vai trò quan trọng nhất trong chiến thắng, là Chương Dương và Hàm Tử. Bằng lỗi viết sóng đôi, hai câu thơ như hai về đối, ta có thể thấy được trận chiến ác liệt như hiện lên trước mặt với nhịp thơ có phần nhanh, dồn dập. Và kết thúc trận chiến là chiến thắng thuộc về quân ta khi ta đã đánh tan quân thù ở Chương Dương, chặt đầu tướng giặc Toa Đô ở Hàm Tử. Hai câu thơ không có từ cảm xúc, chỉ như một lời thông báo, nhưng ta có thể cảm nhận được lòng tự hào vô cùng của tác giả trước chiến thắng của đất nước. Và rồi trong cái chiến thắng ấy, Trần Quang Khải đưa ra nhiệm vụ của nhân dân trong thời bình Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu Để có được hòa bình không dễ, giữ được nó lại càng khó. Trần Quang Khải qua hai câu thơ đã nhắc nhở tất cả mọi người không được lơ là, không được chìm đắm trong chiến thắng mà quên đi nhiệm vụ gìn giữ hòa bình. Ông cho rằng, đất nước muốn được nghìn thu, thì phải dựa vào sức mạnh của nhân dân, dựa vào việc nỗ lực xây dựng, bảo vệ đất nước, nỗ lực tự tu dưỡng, rèn luyện chính mình. Cả bài thơ không sử dụng biên pháp tu từ, với thể thơ thất ngon tứ tuyệt, giọng thơ hào hùng đầy chất tráng ca, nhịp thơ sôi nổi thể hiện khí thế, Trần Quang Khải không chỉ khái quát được chiến thắng lừng lẫy của nhân dân ta, mà còn tổng kết nên một bài học vô cùng quý giá. Có thể nói, Trần Quang Khải là một người có lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, đồng thời, ông cũng là một người có tinh thần trách nhiệm cao, có tài trong việc gây dựng đường lối bảo vệ đất nước. Trong xã hội hiện đại ngày nay, bài học từ bài thơ Phò giá về kinh vẫn là bài học mà mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ nên noi theo. Dù cho đất nước không còn chiến tranh, nhưng giặc trong thù ngoài vẫn luôn lăm le, mỗi người hãy nhớ cho mình bài học từ bài thơ, cố gắng tu dưỡng bản thân để góp phần xây dựng đất nước. Cảm nghĩ bài Phò giá về kinh – Mẫu 8 Phò giá về kinh là bài thơ xuất sắc của Trần Quang Khải- một võ tướng kiệt xuất, cũng là người có những vần thơ sâu xa lí thú. Bài thơ đã ghi lại những suy nghĩ của ông trên đường đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông về Thăng Long. Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn, được chia làm hai phần chính phần một gồm hai câu đầu nói về những chiến công vang dội của quân ta, phần hai lại nói về trách nhiệm giữ gìn hòa bình. Hai câu thơ đầu tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát được chiến thắng oanh liệt của quân ta trước kẻ thù Đoạt sáo Chương Dương độ Cầm Hồ Hàm Tử quan. Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù. Trần Quang Khải đã nhắc đến hai địa danh lịch sử là Chương Dương và Hàm Tử, nơi đây đã xảy ra những trận chiến ác liệt, và kết quả không kém phần vui mừng tại trận Hàm Tử, ta chém được Toa Đô, Còn Trần Quang Khải đã đánh đuổi đại quân Nguyên- Mông tại Chương Dương. Tác giả đã sử dụng lối nói liệt kê, kết hợp giọng thơ dồn dập, sôi động, hai câu thơ như hai câu đối tương xứng nhau, không đi vào trận chiến mà chỉ chỉ ra kết quả, nó đã thể hiện niềm vui sướng, mừng rỡ trước chiến thắng của dân tộc, bên cạnh đó còn là niềm tự hào về sức mạnh của dân tộc ta, có thể chiến thắn được mọi kẻ thù. Trước niềm vui chiến thắng đó, tác giả vẫn không quên một nhiệm vụ quan trọng, đó chính là trách nhiệm trong thời bình. Thái bình tu nỗ lực, Vạn cổ thử giang san. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Đất nước vừa yên ổn, giặc xâm lăng đã bị đuổi nhưng thế không có nghĩa là chúng ta có quyền lơ là trước kẻ thù. Hai câu thơ khẳng định một chân lý vì hòa bình cố gắng hết sức mình cống hiến, thì đất nước sẽ yên bình ngàn thu. Nó là lời nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam, không được ngủ quên trong chiến thắng, cũng là lời Trần Quang Khải nhắc nhở chính mình. Qua đây, ta có thể thấy ông là con người có trách nhiệm, suy nghĩ trước sau, đồng thời cũng là con người giàu lòng yêu nước. Bài thơ không sử dụng nghệ thuật, chủ yếu tâp trung vào ngôn từ nhưng cũng có sức lay động lòng người. Nó nhắc nhở mỗi con người về trách nhiệm của bản thân với đất nước. Đồng thời, Phò giá về king cũng thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước nồng nàn của tác giả. Trong hoàn cảnh hiện nay, Phò giá về kinh vẫn là một bài nhắc nhở mọi người. Bên cạnh việc đề phòng cách thế lực nhòm ngó, nhiệm vụ quan trọng hơn của mỗi chúng ta là góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn Đăng bởi Trường Tiểu Học Tiên Phương Chuyên mục Tài Liệu Học Tập Dàn ý1. Mở bài Giới thiệu vài nét về tác giả Trần Quang Khải Là người "văn võ song toàn", không chỉ có công lớn trong công cuộc đánh đuổi quân Mông - Nguyên mà còn là nhà thơ với những bài thơ đặc sắc Giới thiệu vài nét về Phò giá về kinh Tụng giá hòa kinh sư và nêu vấn đề cần nghị luận Tinh thần yêu nước2. Thân bàiHai câu thơ đầuTinh thần yêu nước thể hiện trong niềm vui, niềm tự hào ngây ngất khi tác giả cất lên bài ca chiến thắng "Đoạt sáo... Hàm Tử quan" Chương Dương... quân thù => Lời thông báo, tổng kết về chiến thắng cô đọng, hàm súc, đó cũng chính là bài ca của lòng yêu nước được thử thách trong khói lửa chiến tranhHai câu thơ sau Tinh thần yêu nước biểu hiện qua khát vọng và cái nhìn hướng tới tương lai "Thái bình... giang san" Thái bình... ngàn thu=> Ý thơ hào hùng, biểu hiện của lòng yêu quê hương đất nước, khát vọng cao cả, trí tuệ, sự sáng suốt của vị tướng tài ba=> Bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào ngày mai tươi sáng3. Kết bài Khẳng định lại nội dung tư tưởng tác phẩm. Nêu suy nghĩ, đánh giá của bản thân. Bài làmThượng tướng thái sư Trần Quang Khải 1241-1294, con trai thứ ba của vua Trần Thánh Tông, không những là một danh tướng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân tộc. Trần Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh Tụng giá hoàn kinh sư cũng đủ để thành một tên tuổi. Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải 10 phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng- nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹpChương Dương cướp giáo giặc,Hàm tử bắt quân bình nên gắng nước ấy ngàn thu.Trần Trọng Kim dịch Dường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nên cả lại vào bốn dòng ngũ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc nịch. Hai câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng caChương Dương cướp giáo giặc,Hàm Tử bắt quân thù. Chương Dương và Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương-Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi hồi. Tác giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng bởi tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí, và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở đó. Nên như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khácThái bình nên gắng sức,Non nước ấy ngàn thu. Vẫn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghỉ ngơi chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công, đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục! Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết tu trí lực của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân ông. Niềm mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của muôn triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhân văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn đời.

cảm nghĩ bài phó giá về kinh