Quốc Tử Giám vẫn giữ được nét đặc trưng rất riêng của một "trường Đại học", một trung tâm giáo dục phong kiến triều Nguyễn cùng nhiều các giá trị văn hóa khác. Những đã ai một lần đến với Hà Nội, đến với những địa chỉ sở hữu vị cốm chuẩn thời xưa, thì hãy vào Quốc Tử Giám Hà Nội, nơi gợi lại cảnh đèn sách, học hành truyền thống của tổ tiên. Thước lỗ ban là gì? Thước lỗ ban là một trong những loại thước có tác dụng là dùng để đo đạc trong quá trình xây dựng Dương Trạch ( Nhà Cửa ) và Âm Trạch là trong quá trình ( mộ phần ). Ở trên bề mặt của thước lỗ ban thì được chia kích thước như thông thường giống như các loại thước khác, nhưng Liền kề là công viên Chu Văn An rộng 100ha. Công viên Chu Văn An: Cụ Chu Văn An thi đậu kỳ thi khoa bảng Thái Học Sinh (tương đương học vị Tiến Sỹ) nhưng không ra làm quan, cụ mở một trường học gần nhà và hướng dẫn, dạy dỗ nhiều thế hệ học trò về những lời răn - Việc xây dựng Văn Miếu, thành lập Quốc Tử Giám đã thể hiện sự quan tâm, chăm lo của nhà nước đối với giáo dục. - Việc thực hiện các khoa thi cho thấy nhà Lý đã bước đầu sử dụng con đường khoa cử để tuyển chọn nhân tài, đặt cơ sở đưa đất nước phát Trong suốt 175 năm (1225 - 1400) trị vì, nhà Trần đã xây dựng Đại Việt thành một quốc gia cường thịnh với những đỉnh cao về võ công, văn trị, tạo nên một nền văn hóa, văn minh rực rỡ với hào khí Đông A tỏa sáng. ngôi chùa được xây dựng từ thời Lý là nơi đặt Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý trật tự xây dựng và cấp phép xây dựng trên địa bàn quận Đống Đa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên HdX6O4G. Câu hỏi Nhà Lý xây dụng Văn Miếu - Quốc Tử Giám đê làm gì? Giúp mình với mọi người Nhà Lý xây dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám để làm gì? A. Là nơi gặp gỡ của quan lại. B. Vui chơi giải trí. C. Dạy học cho con vua, quan, tổ chức các kì thi. D. Đón tiếp sứ thần nước ngoài. Xem chi tiết Nhà lý xây dựng văn miếu quốc tử giám để làm j Xem chi tiết khanh 8 tháng 12 2021 lúc 836 Việc xây dựng Văn Miếu -Quốc Tử Giám có ý nghĩa gì?giúp mình với Xem chi tiết Nhà Lý xây dựng Văn miếu – Quốc Tử Giám để làm nơi *Hội họp các quan lạiĐón các sứ giả nước ngoàiVui chơi giải tríDạy học cho con vua, quan, mở trường thi Xem chi tiết 1, tình hình kinh tế , xã hội nhà Trần nửa cuối thế kỉ XIV như thế nào ?2, nhà lí xây Văn Miếu Quốc Tử Giám để là gì ? Xem chi tiết Câu 8. Nhà Lý xây dựng Văn Miếu- Quốc Tử Giám đểA. Thờ Phật Tổ. B. Nơi dạy cho các con em quí tộc C. Thờ Lão Tử D. Lễ tế trời đấtCâu 9. Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn quan lại vào năm nào?A. Năm 1075 B. Năm 1076 C. Năm 1077 D. Năm 1078Câu 10 Nhà Trần thành lập thời gian nào?A. Năm 1226 B. Năm 1227 C. Năm 1228 D. Năm 1229Đọc tiếp Xem chi tiết Việc xây dựng Văn miếu có ý nghĩa gì? Giúp mình với mọi người Xem chi tiết Trường Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng năm nào Xem chi tiết Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng năm 1070 hay 1803 Xem chi tiết Giới thiệu về Văn Miếu Quốc Tử Giám ngắn gọnGiới thiệu về Văn Miếu Quốc Tử Giám1. Tại sao gọi là Văn Miếu Quốc Tử Giám?2. Giới thiệu về di tích lịch sử Văn Miếu Quốc Tử GiámLịch sử Văn Miếu Quốc Tử GiámKiến trúc của Văn Miếu3 khu thường được tham quan khi đến Văn Miếu Quốc Tử Giám3. Thuyết minh về Văn miếu Quốc Tử GiámVăn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích lịch sử nổi tiếng hàng đầu của Việt Nam. Được biết đến là trường đại học cổ xưa nhất của người Việt, ngày nay Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một trong số những địa chỉ tham quan yêu thích của du khách trong và ngoài nước. Vậy tại sao gọi là Văn Miếu Quốc Tử Giám? Mời các bạn hãy cùng Hoatieu tham khảo nội dung sau đây để tìm hiểu thêm nhiều thông tin bổ ích về Văn Miếu Quốc Tử Giám minh về chiếc khẩu trang ngắn gọnTop 5 bài phân tích diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc1. Tại sao gọi là Văn Miếu Quốc Tử Giám?Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra đời vào năm 1070 tại vị trí như hiện nay. Mặc dù còn có ý kiến khác nhau về tên gọi “Văn Miếu” nhưng đều thống nhất rằng Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử cùng các tiên hiền Nho học, đồng thời là nơi học tập của Hoàng Thái tử. Được biết ở Trung Quốc từ thời Hậu Tề 479 – 502 các trường trong phủ, huyện đều lập miếu thờ Khổng Tử và Nhan Tử theo bộ từ điển Từ Nguyên. Như vậy ngay từ thế kỷ thứ V Trung Quốc đã có lệ lập Văn Miếu ở trường học. Ở Việt Nam vào đầu thể kỷ XI Nho Giáo chưa phát triển, nhưng điều đó đã khẳng định nhà Lý chọn Nho Giáo là hệ tư tưởng chính. Điều này cũng phù hợp với quy chế dạy và học ở Trung Quốc – quốc gia khởi thuỷ của nền Nho học. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Bính Thìn, niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 1076, “chọn viên quan văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc Tử Giám”, đây là lần đầu tiên tên gọi “Quốc Tử Giám” xuất hiện trong chính sử, do đó có thể hiểu rằng năm 1076 là năm ra đời của Quốc Tử gọi Quốc Tử Giám lần đầu tiên xuất hiện trong chính sử là vào năm 1076, đây là nơi học tập của con em trong hoàng gia và những văn thần có học. Lúc đầu quy mô còn nhỏ, chỉ dành riêng cho Hoàng Thái tử, sau này được mở rộng cả về quy mô và đối tượng theo học, với mục đích đào tạo quan lại cho triều đình. Tên gọi Quốc Tử Giám cũng được được chính thức gọi từ lúc này và cho đến nay tên gọi đó vẫn được duy trì, tuy nhiên trong một số giai đoạn lich sử đã được gọi với tên khác Giới thiệu về di tích lịch sử Văn Miếu Quốc Tử GiámLịch sử Văn Miếu Quốc Tử GiámVăn Miếu được xây dựng năm 1070 dưới thời cai trị của vua Lý Thánh Tông. Nơi thờ các vị khổng tử nổi tiếng của việt nam như Khổng Tử, Chu Công và Tứ vua Lý Nhân Tông cho lập thêm Quốc Tử Giám bên cạnh là trường đại học dành riêng cho con vua và các gia đình quý tộc đến đây để học tập . Và được đổi tên thành quốc học viện trong thời vua Trần Thái Tông cai trị. Cho phép con cái thường dân những người có tài văn chương xuất sắc đến đây học này sau khi vua Lê Thánh Tông cai trị thì bắt đầu xây dựng bia của những tiến sĩ thi đỗ. Và tới thời vua Nguyễn, Quốc Tử Giám được lập Huế. Cho người sửa chữa lại Văn miếu Thăng Long đổi tên thành Văn Miếu của trấn Bắc Thành. Cuối cùng đổi tên thành văn miếu Hà Nội đến ngày hôm nay. Đó là vài nét sơ lược về lịch sử văn miếu quốc tử trúc của Văn MiếuDi tích lịch sử văn miếu có diện tích rộng 54331 m2, gồm các công trình thiết kế kiến trúc lớn, nhỏ khác nhau. Bên ngoài khuôn viên là những bức gạch vồ. Di tích này trải qua nhiều lần tu sửa vì có dấu hiệu xuống cấp do thời gian. Văn Miếu Quốc Tử Giám gồm Hồ Văn, Văn Miếu môn, Đại Trung môn, Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, bia tiến sĩ, Đại Thành môn, nhà Thái trước văn miếu có một hồ gọi là hồ Văn Chương ngày xưa chúng ta có thể trên lầu và ngắm cảnh dưới hồ. Cổng chính gồm 4 trụ lớn, hai bên có bia ghi trên đó là chữ “Hạ Mã”. Bản tên của Văn Miếu ghi bằng chữ Hán cổ xưa có tên là “Văn Miếu Môn”Được chia làm 5 khu vực khác nhau, mỗi khu vực đều cách nhau bởi những tường ngăn cách lớn và cổng đi lại nối liền với nhau cho tiện việc di chuyển qua các khu khác khu thường được tham quan khi đến Văn Miếu Quốc Tử Giám1. Khu thứ nhấtĐó là cổng chính của văn miếu từ đây chúng ta sẽ đi đến được Đại Trung Khu thứ haiKhi vào Đại Trung Môn thì chúng ta sẽ tới Khuê Văn Các. Khuê Văn Các là công trình kiến trúc có tỉ lệ kiến trúc khá hài hòa và thu hút người tham quan khi đến đây. Ngôi nhà gồm 4 trụ chính phía trên là gác lửng ngày xưa là nơi để dạy học được làm hoàn toàn bằng gỗ rất tinh xảo và cầu trái trái Khuê Văn các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu bia tiến sĩ những người đỗ đạt chức vị lớn ở các kỳ thi cử. Khuê Văn các ở Văn Miếu được coi là bộ mặt của Hà Khu thứ baHồ nước Thiên Quang Tỉnh hồ có hình vuông rất đẹp nó còn có tên khác là giếng soi ánh mặt trời. Dọc hai bên hồ là nhà bia các tiến sĩ, mỗi tấm bia được làm bằng đá được đặt trên mỗi con rùa và khắc tên tiến sĩ đã đậu các chức vị như là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến từ năm 1442 – 1779 hiện này còn 82 tấm bia. Đó là những điểm thu hút khách đến thăm quan nhất và đó cũng là những di tích lịch sử quý Khu thứ tưKhu trung tâm văn miếu có hai công trình lớn và được thiết kế kỳ công nhất nằm song song và nối tiếp bên ngoài gọi là Bái đường, Tòa trong gọi là Thượng cung. Đây là khu vực thờ Khổng Tử và Tứ Khu thứ nămĐây là khu nhà Thái Học. Thời nhà Nguyễn đã bị bãi bỏ và trường Quốc Tử Giám cũng đóng cửa. Nơi này đổi tên thành Khải thánh là nơi thờ thân sinh phụ mẫu của Khổng thời gian kháng chiến chống Pháp khu nhà này bị phá hủy bởi chiến tranh. Được cải tạo và xây dựng lại năm 1999. Trong khu thứ năm còn là nơi thờ của các vị vua gồm vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh Tông và tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn Thuyết minh về Văn miếu Quốc Tử GiámVăn Miếu Quốc Tử Giám tọa lạc giữa thủ đô Hà Nội, được xem là trường đại học đầu tiên tại Việt Nam. Từ những năm đầu tiên, ngôi trường này đã tụ họp rất nhiều người tài, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Hiện nay Văn Miếu vẫn là điểm đến của nhiều du khách khi ghé thăm Hà Nội bởi kiến trúc độc đáo, ấn Miếu Quốc Tử Giám đã trải qua bao nhiêu biến động, thăng trầm của lịch sử nhưng nó vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của con người Hà Nội. Đó là giá trị tinh thần cao đẹp được gìn giữ từ bao nhiêu năm. Văn Miếu nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long thời Lí. Văn Miếu được được vào hoạt động trong khoảng thời gian từ 1076 cho đến 1820, đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất Miếu bao gồm hai di tích chính là Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy đầu tiên của trường học. Trải qua bao nhiêu năm nhưng Văn Miếu vẫn giữ được những nét đẹp cổ Miếu – Quốc Tử Giám được nhà Lý xây dựng vào thế kỉ 11, với mục đích chính là dạy học cho các hoàng tử và những người tài trong thiên hạ. Đây còn là nơi thờ các danh nhân có công trong nền giáo dục nước nhà, tổ chức các kì thi của quốc gia, cao nhất là kì thi tiến Miếu – Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long xưa. Nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Ở vị trí đắc địa, bốn mặt đều là những con phố đông vui, nhưng không vì thế mà Văn Miếu mất đi vẻ yên tĩnh, cổ kính vốn có. Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54331 m² bao gồm hồ Văn, khu Văn Miếu – Quốc Tử Giám và vườn Văn nằm ở đối diện cổng chính Quốc Tử Giám, đã được trùng tu nhiều năm nay. Đây là một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát, giữa hồ có gò Kim Châu. Cảnh trí rất yên bình, nên thơ giúp cho các sĩ tử giải tỏa bớt căng thẳng trước giờ lịch sửVăn Miếu được xây dựng từ "tháng 8 năm Canh Tuất 1070 tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.".Bia tiến sĩ khoa thi nho học năm Nhâm Tuất 1442 Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử giám, có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý nên gọi tên là Quốc Tử. Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp hiệu trưởng và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khóa thi 1442 trở 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu – Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu – Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lạiVề kiến trúcQuần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia "Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhauKhu thứ nhất bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài thứ hai từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805. Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông 85cm x 85cm bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời toả tia sáng. Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú của bầu trời tỏa xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đây là nơi thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến thứ ba gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh nghĩa là giếng soi ánh mặt trời, có hình vuông. Hai bên hồ là 2 khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện còn 82 tấm bia tiến sĩ về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, chia đều cho hai khu tả và hữu. Trong đó, 12 bia đầu tiên cho các khoa thi những năm 1442-1514 được dựng vào thời Lê sơ, 2 bia cho các khoa 1518, 1529 được dựng vào triều nhà Mạc, còn 68 bia cuối cùng các khoa thi những năm 1554-1779 được dựng vào thời Lê trung hưng. Mỗi khu nhà bia gồm có 1 Bi đình nằm ở chính giữa và 4 nhà bia mỗi nhà 10 bia xếp thành hai hàng, nằm hai bên Bi đình. Bi đình khu bên trái Thiên Quang Tỉnh chứa bia tiến sĩ năm 1442, còn Bi đình khu bên phải chứa bia tiến sĩ năm thứ tư là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Tòa ngoài nhà là Bái đường, tòa trong là Thượng thứ năm là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ phối Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử. Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Lớp 8 của Câu hỏi Nhà lý xây dựng văn miếu quốc tử giám để làm j Nhà Lý xây dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám để làm gì? A. Là nơi gặp gỡ của quan lại. B. Vui chơi giải trí. C. Dạy học cho con vua, quan, tổ chức các kì thi. D. Đón tiếp sứ thần nước ngoài. Xem chi tiết Nhà Lý xây dựng Văn miếu – Quốc Tử Giám để làm nơi *Hội họp các quan lạiĐón các sứ giả nước ngoàiVui chơi giải tríDạy học cho con vua, quan, mở trường thi Xem chi tiết Nhà Lý xây dụng Văn Miếu - Quốc Tử Giám đê làm gì? Giúp mình với mọi người Xem chi tiết Câu 8. Nhà Lý xây dựng Văn Miếu- Quốc Tử Giám đểA. Thờ Phật Tổ. B. Nơi dạy cho các con em quí tộc C. Thờ Lão Tử D. Lễ tế trời đấtCâu 9. Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn quan lại vào năm nào?A. Năm 1075 B. Năm 1076 C. Năm 1077 D. Năm 1078Câu 10 Nhà Trần thành lập thời gian nào?A. Năm 1226 B. Năm 1227 C. Năm 1228 D. Năm 1229Đọc tiếp Xem chi tiết Trường Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng năm nào Xem chi tiết Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng năm 1070 hay 1803 Xem chi tiết khanh 8 tháng 12 2021 lúc 836 Việc xây dựng Văn Miếu -Quốc Tử Giám có ý nghĩa gì?giúp mình với Xem chi tiết 1, tình hình kinh tế , xã hội nhà Trần nửa cuối thế kỉ XIV như thế nào ?2, nhà lí xây Văn Miếu Quốc Tử Giám để là gì ? Xem chi tiết Câu 4 Năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được dựng lên trong khu Văn Miếu được coi là?A. Nơi thờ Khổng Tử. B. Trường đại học đầu tiên của nước Nơi viết sử đầu tiên của dân tộc. D. Nơi diễn ra các khoa thi đầu tiên trong lịch sử. Xem chi tiết Câu 1 Chế độ phong kiến Trung Quốc được hình thành và xác lập vào thời nào? A. Hạ - Thương B. Tần – Hán C. Tống – Nguyên D. Minh – Thanh Câu 2 Người Trung Quốc đã xây dựng nhà nước đầu tiên của mình từ? A. 1000 năm TCN B. 2000 năm TCN C. 3000 năm TCN D. 4000 năm TCN Câu 3 Người bị mất ruộng đất, phải nhận ruộng từ địa chủ để cày cấy thuê thì gọi là? A. Nông dân tự canh B. Nông dân làm thuê C. Nông nô D. Nông dân lĩnh canh Câu 4 Xã hội phong kiến cuối thời Minh – Thanh như thế nào? A. Ổn định...Đọc tiếpCâu 1 Chế độ phong kiến Trung Quốc được hình thành và xác lập vào thời nào? A. Hạ - Thương B. Tần – Hán C. Tống – Nguyên D. Minh – Thanh Câu 2 Người Trung Quốc đã xây dựng nhà nước đầu tiên của mình từ? A. 1000 năm TCN B. 2000 năm TCN C. 3000 năm TCN D. 4000 năm TCN Câu 3 Người bị mất ruộng đất, phải nhận ruộng từ địa chủ để cày cấy thuê thì gọi là? A. Nông dân tự canh B. Nông dân làm thuê C. Nông nô D. Nông dân lĩnh canh Câu 4 Xã hội phong kiến cuối thời Minh – Thanh như thế nào? A. Ổn định và phát triên B. Mục ruỗng, thối nát C. Đời sống nhân dân ấm no D. Xã hội bước vào thời kì suy yếu Câu 5 Chế độ tuyển chọn quan lại dưới thời Đường, có điểm gì tiến bộ hơn các triều đại khác? A. Tuyển chọn quan lại từ con em quý tộc B. Tuyển chọn con em địa chủ thông qua thi cử C. Bãi bỏ chế độ tiến cử, tất cả thông qua thi cử D. Thông qua thi tự do cho mọi đối tượng Câu 6 Vì sao Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống để bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc? A. Phù hợp với phong tục tập quán của người Trung Quốc B. Tư tưởng Nho giáo mang tính tiến bộ hơn các hệ tư tưởng khác C. Là công cụ sắc bén phục vụ cho nhà nước phong kiến tập quyền D. Mang tính giáo dục rèn luyện đạo đức con người Câu 7 Tư tưởng “Đại hán” của các triều đại phong kiến Trung Quốc có ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào? A. Luôn trở thành đối tượng xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Quốc B. Hai bên thiết lập bang giao, hòa hảo cùng giúp đỡ nhau C. Hai bên cố gắng hạn chế quan hệ bang giao D. Luôn nhân được sự bảo hộ với tư cách là chư hầu Câu 8 Sau khi lên ngôi vua Ngô Quyền đã chọn địa điểm nào làm kinh đô cho nhà nước độc lập? A. Hoa Lư B. Phong Châu C. Đại La D. Cổ Loa Câu 9 Nhà Lê được thành lập trong hoàn cảnh nào? A. Đất nước thái bình B. Nội bộ triều đình rối loạn, chia nhiều phe cánh C. Nhà Tống đang lăm le xâm lược nước ta D. Đất nước trong thời gian bị phương bắc đô hộ Câu 10 Sau khi Ngô Quyền mất, tình hình đất nước chuyển biến như thế nào? A. Nhà Đinh lên thay, tiếp tục quá trình xây dựng đất nước B. Rơi vào tình trạng “loạn 12 sứ quân” C. Nhà Nam Hán đem quân xâm lược trở lại D. Ngô Xương Văn nhường ngôi cho Dương Tam Kha Câu 11 Mô hình nhà nước được Ngô Quyền xây dựng sau khi lên ngôi đi theo thể chế A. Dân chủ chủ nô B. Quân chủ chuyên chế C. Quân chủ lập hiến D. Cộng hòa quý tộc Câu 12 Biểu hiện của mầm mống chủ nghĩa tư bản dưới thời Minh – Thanh là gì? A. Xuất hiện nhiều thương cảng lớn, ngoại thương phát triển, xuất hiện nhiều ngân hàng. B. Xuất hiện nhiều xưởng dệt lớn; chuyên môn hóa cao, xuất hiện nhiều thương cảng lớn, ngoại thương phát triển, xuất hiện nhiều ngân hàng. C. Nhiều công nhân làm thuê, xuất hiện nhiều thương cảng lớn; ngoại thương phát triển. D. Xuất hiện nhiều thương cảng lớn; ngoại thương phát triển, nhiều công nhân làm thuê, xuất hiện nhiều xưởng dệt lớn; chuyên môn hóa cao. Câu 13 Ai là người dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước? A. Ngô Quyền B. Đinh Bộ Lĩnh C. Lê Hoàn D. Dương Tam Kha Câu 14. Vì sao dưới thời Đinh – Tiền Lê các nhà sư lại được trọng dụng? A. Giáo dục chưa phát triển, nho học chưa có ảnh hưởng. B. Đạo Phật phát triển, được nhà nước nhân dân quý trọng. C. Các nhà sư là người có học giỏi chữ Hán, được nhà nước nhân dân quý trọng, đạo Phật phát triển, giáo dục chưa phát triển, nho học chưa có ảnh hưởng. D. Các nhà sư am hiểu đạo Phật, nho giáo chưa có ảnh hưởng, đạo Phật phát triển, được nhà nước và nhân dân quý trọng. Câu 15. Quốc gia nào thuộc khu vực Đông Nam Á? A. Hàn Quốc. B. Nhật Bản. C. Trung Quốc. D. Singapore. Câu 16. Căn cứ của nghĩa quân Đinh Bộ Lĩnh được xây dựng ở vùng nào A. Cổ Loa B. Hoa Lư C. Phong Châu D. Thuận Thành Câu 17. Thể chế nhà nước do vua đứng đầu được gọi là gì? A. Chế độ cộng hòa. C. Chế độ lập hiến. B. Chế độ xã hội chủ nghĩa. D. Chế độ quân chủ. Câu 18 Vì sao Ngô Quyền không duy trì chính quyền họ Khúc? A. Chính quyền họ Khúc về danh nghĩa vẫn thuộc nhà Đường. B. Ngô Quyền muốn phát triển đất nước thành một quốc gia độc lập, thiết lập một chính quyền hoàn toàn của người Việt. C. Ngô Quyền muốn xây dựng một chính quyền cao hơn thời họ Khúc. D. Ngô Quyền không muốn tự nhận mình là tiết độ sứ của chính quyền phương Bắc. Câu19 Việc làm nào của Ngô Quyền khẳng định chủ quyền quốc gia? A. Đặt kinh đô ở Cổ Loa B. Lên ngôi vua, xóa bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương bắc C. Đặt lại lễ nghi trong triều đình D. Đặt lại các chức quan trong triều đình, xóa bỏ các chức quan thời bắc thuộc Câu 20. Vương triều nào tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc C. Lý Thường Kiệt biết cách động viên tinh thần chiến đấu của binh lính Đại Việt và làm nhụt chí quân Tống bằng bài thơ bất hủ D. Nhà Lý đẩy mạnh xây dựng phòng tuyến, chặn đánh địch mọi phía, khích lệ động viên tinh thần binh lính. Câu 28 Lý Thường Kiệt chủ động kết thúc chiến tranh bằng cách nào? A. Tổng tiến công truy kích kẻ thù đến cùng B. Thương lượng, đề nghị giảng hòa C. Kí hòa ước kết thúc chiến tranh D. Đề nghị giảng hòa, chờ thời cơ Câu 29 Những vị tướng dân tộc thiểu số tiêu biểu, có đóng góp lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống 1075-1077 là? A. Hà Bổng, Hà Trương B. Tông Đản, Thân Cảnh Phúc C. Hoài Trung Hầu, Dương Cảnh Thông D. Hà Thiện Lãm, Dương Tự Minh Câu 30 Tại sao Lý Thường Kiệt chủ động giảng hòa? A. Đảm bảo mối quan hệ hòa hiếu giữa hai nước, là truyền thống nhân đạo của dân tộc B. Sợ mất lòng vua Tống C. Bảo toàn lực lượng dân tộc D. Muốn kết thúc chiến tranh nhanh chóng C. Lý Thường Kiệt biết cách động viên tinh thần chiến đấu của binh lính Đại Việt và làm nhụt chí quân Tống bằng bài thơ bất hủ D. Nhà Lý đẩy mạnh xây dựng phòng tuyến, chặn đánh địch mọi phía, khích lệ động viên tinh thần binh lính. Câu 28 Lý Thường Kiệt chủ động kết thúc chiến tranh bằng cách nào? A. Tổng tiến công truy kích kẻ thù đến cùng B. Thương lượng, đề nghị giảng hòa C. Kí hòa ước kết thúc chiến tranh D. Đề nghị giảng hòa, chờ thời cơ Câu 29 Những vị tướng dân tộc thiểu số tiêu biểu, có đóng góp lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống 1075-1077 là? A. Hà Bổng, Hà Trương B. Tông Đản, Thân Cảnh Phúc C. Hoài Trung Hầu, Dương Cảnh Thông D. Hà Thiện Lãm, Dương Tự Minh Câu 30 Tại sao Lý Thường Kiệt chủ động giảng hòa? A. Đảm bảo mối quan hệ hòa hiếu giữa hai nước, là truyền thống nhân đạo của dân tộc B. Sợ mất lòng vua Tống C. Bảo toàn lực lượng dân tộc D. Muốn kết thúc chiến tranh nhanh chóng Xem chi tiết

nhà lý xây dựng văn miếu quốc tử giám để